Lục Châu Học
CHƯƠNG IX
CHÍNH SÁCH VĂN HÓA CỦA
NGƯỜI PHÁP
VÀ ẢNH HƯỞNG VĂN
HÓA PHÁP Ở MIỀN NAM
THỜI KỲ ĐẦU
THUỘC ĐỊA
Nguyễn Văn Trung
I - Chính sách văn hóa của người
pháp ở Nam Kỳ
Sau khi chiếm đóng xong Nam Kỳ,
người Pháp bắt tay vào việc cải tạo thuộc
địa về mọi mặt. Riêng về văn hóa,
họ chỉ có hai chính sách để lựa chọn áp
dụng: liên hiệp hoặc đồng hóa, nghĩa là
vẫn tiếp tục tôn trọng bản sắc văn hóa
(identité culturelle) của người bị trị hoặc
xóa nó, biến người bị trị thành người
Pháp về văn hóa.
Bonard chống đường lối
trực trị của Charner, v́ cảm phục văn hóa,
những thể chế Việt Nam. Chủ trương
phải "tôn trọng luật lệ phong tục quốc
gia của người Annam" ra một tuyên ngôn bằng
chữ Nho và chữ Pháp tŕnh bày quan điểm trên (1) tái
lập hệ thống hành chánh cũ để cho
người bản xứ cai trị. Một số
người Pháp thời đó như: Anbaret, Luro, Philastre,
Linh mục thừa sai Legrand de la Liraye... cũng cảm phục
văn hóa Việt Nam, dịch những tác phẩm văn
chương, bộ Luật tiêu biểu ra tiếng Pháp và
quan điểm văn hóa của họ cũng đưa
họ đến sự lựa chọn một quan
điểm chính trị: chính sách liên hiệp. Nhưng chính
sách của Bonard thất bại v́ không được giới
sĩ phu hưởng ứng, hầu hết theo khuyến
cáo của triều đ́nh đều chạy trốn,
ẩn náu hoặc từ chối cộng tác, De la Grandière,
sau Bonard buộc phải quay lại chính sách trực
trị, nhưng phải đợi đến thời Le
Myre de Villers, chính sách trực trị và đồng hóa
mới được thi hành một cách triệt
để và gấp rút như Taboulet đă ghi nhận
"không phải một chính sách đồng hóa kiên tŕ có
mức độ vừa phải, như thời các
đề đốc đă làm, mà là đồng hóa một
cách triệt để sâu xa, nhằm làm cho Nam kỳ
trở thành một miền đất Pháp, một quản
hạt sống cuộc đời tương tự ở
mẫu quốc. Sau khi đă phê phán những cố gắng
đầy tham vọng của các đề đốc không
đưa đến những kết quả như họ
mong muốn, Taboulet kết luận: Tuy vậy những
việc làm của họ không phải vô ích v́ đă góp
phần tạo cho miền Nam Việt Nam một khuôn mặt
riêng biệt, một thứ "diện bộ Pháp hóa"
như đặc điểm của một phần
đất Đông Dương (1). Người Pháp muốn
biến miền Nam thành một hạt (département) của
Pháp quốc hải ngoại và biến Sài G̣n thành thủ
đô của hạt đó v́ coi miền Nam là vùng
đất trù phú: "chúng ta t́m thấy được
ở Nam kỳ một vị trí rất khích lệ. Chúng ta
đạp chân trên một miền đất trù phú hơn
cả. Tóm lại nếu chúng ta biết lợi dụng và
không làm hỏng tương lai, th́ chính đây là nơi mà
một ngày kia ảnh hưởng Pháp sẽ tỏa lan
ở Á đông" (2) và Sài G̣n là trung tâm của mọi sinh
hoạt: "Sài G̣n đóng một vai tṛ quan trọng không
phải chỉ về phương diện nếp sống
của dân chúng mà c̣n trên b́nh diện cả thuộc
địa và tổ quốc. Sài g̣n là thủ đô của
xứ sở v́ ở đây có chính quyền Trung
ương, các chỉ huy những lực lượng
hải quân, lục quân, ở đây tập trung dịch
vụ thuế má, có ṭa thượng thẩm, không những
bao gồm các Ṭa án của Nam kỳ, mà cả Xiêm, Cao Miên,
biển Nam Hải, và Nhật Bản. Sài G̣n là hải
cảng duy nhất mà mọi loại tàu trận hoặc tàu
buôn đều có thể ra vào, sẽ là nơi tập trung
toàn bộ những chuyển vận hàng hải và ngoại
thương (3).
<<(1) Sách trích dẫn trang 522.
(2) Báo cáo của Charner gửi Chasseloup Laubat,
Bộ trưởng Bộ Hải quân, trích dẫn theo André
Baudrit, guide historique des rues de Saigon lère S.I.L.I. Sài G̣n 1943 trang
21.
(3) Phát biểu về tầm quan trọng
của SG trong buổi họp 18-9-1879 của Hội
đồng quản hạt. Cochinchine Française. Frocès verbaux du
conseil colonial anne 1879 Imp. Colonial.>>
Những dự định thực hiện
đường lối cải tạo:
1) Thiết kế đô thị: Thời
Bonard vẫn c̣n tiếp tục tranh luận về hai
đường lối cải tạo, thiết kế Sài
G̣n: đào sâu hoặc đào thêm rạch hào, biến Sài G̣n
thành một thứ Venise ở Á châu hoặc lấp bớt
rạch hào, làm khô, chỗ trũng nâng cao, biến rạch
hào cũ thành đường phố. Bonard chủ trương
đường lối thứ nhất, nhưng sau Bonard,
chủ trương thứ hai được lựa
chọn và thực hiện (1). Ngoài ra Bonard ra lệnh cho
Coffyn, đại tá công binh vẽ một bản đồ
Sài G̣n dự tính cho 500.000 người trong khi lúc đó
đâu cả Sài G̣n Chợ Lớn chỉ vào khoảng 25.000
người. Một dự định sau đó cũng
bị bỏ qua v́ không tưởng.
<<(1) Xem Taboulet trang 487.>>
2) Hành chính, chính trị: Thiết lập
những thể chế dân chủ như Hội
đồng quản hạt (Conseil colonial) 1880 các Hội
đồng thị xă gồm cả Pháp Việt như
Hội đồng quản hạt có 6 Pháp, 6 Việt, 2
đại biểu của pḥng Thương mại, 2
đại biểu của Thống soái do bầu cử.
- Tuyên bố quy chế về tự do báo
chí, tư tưởng, áp dụng đạo luật 1881
như ở Pháp (2).
<<(2) Bulletin official de la Cochinchine arrêté
promulgant dans la colonie les 2 lois du 29 Juillet 1881 sur la liberté de
presse ci sur l'anmistie des crimes et délits de presse. Année 1881 trang 357.
>>
- Tuyên bố nghị định về
nhập Pháp tịch. Điều kiện duy nhất là trên
21 tuổi và chứng minh được biết nói
tiếng Pháp. Nghị định này được
Tổng thống Pháp kư do đề nghị của Bộ
trưởng Hải quân dựa trên báo cáo của thuộc
địa: "nhận xét người Annam đă chấp nhận
sự thống trị của người Pháp, bắt
đầu học tiếng của ta và theo phong tục
của ta, một số người bản xứ đă
giữ những chức vụ hành chánh. Chánh quyền nên
khuyến khích đẩy mạnh xu hướng trên
bằng cách cho phép người Annam trở thành công dân Pháp.
Một điều cốt yếu để
được ân huệ đó là biết tiếng Pháp và
không thể cho một người quyền công dân nếu
người đó không hiểu văn minh của chúng ta (3).
<<(3) Bulletin officiel de la Cochinchine, Arrêté
promulgant en Cochinchine le décret du 25 Mars 1881 reglant les conditions de
naturalisation des indigènes. Rapport au président de la République. Décret 14
Juillet 1881 trang 293. >>
3) Kinh tế: Chủ trương tự do
kinh doanh. Theo Taboulet Nam Kỳ trở thành thuộc
địa đúng vào thời những lư thuyết của
nhóm Saint Simon được chấp nhận ở Pháp
về nguyên tắc tự do kinh doanh. Ở Nam kỳ
được sự chấp thuận hoàn toàn của
mẫu quốc, các đề đốc cai trị cho
rằng nhiệm vụ của họ chỉ là h́nh
định, tổ chức hành chánh, bảo vệ an ninh
trật tự thôi, không can thiệp vào việc kinh tế,
do đó không có những hàng rào, thể thức quan thuế,
không có kỳ thị, hoặc ưu đăi độc
quyền, trợ cấp, b́nh đẳng cho mọi
người tự do cạnh tranh hoàn toàn. Đó là những
phương hướng phải theo để làm cho Nam
kỳ phát triển thịnh vượng (1) nói cách khác,
tuyệt đối nhà nước không can thiệp vào
việc làm ăn buôn bán của tư nhân.
<<(1) Taboulet S. S trang 570.>>
4) Văn hóa giáo dục: Cổ động
và cấp học bổng cho một số thanh niên sang du
học ở Alger, nhằm đào tạo một lớp trí
thức theo văn hóa Pháp ngay từ hồi đầu Pháp
thuộc. Trước khi Pháp chiếm và b́nh định xong
Bắc kỳø, Trung kỳ, đă có một đội
ngũ trí thức Tây học đầu tiên trở về
nước hồi 1884. Theo những phản ảnh trong báo
chí hồi đầu thế kỷ, những thanh niên này
thường thuộc giới b́nh dân, v́ giới nhà giàu
chưa đủ tin ở sự vững mạnh của
chính thể mới, sợ sau này triều đ́nh trở
lại nên có người phải thuê con nhà b́nh dân đi du
học thay cho ḿnh, như trường hợp Diệp
Văn Cương, theo ông Vương Hồng Sến và
Hồ Biểu Chánh trong một tiểu thuyết của ông
(2).
<<(2) Sợ cho con đi học nhà
nước bắt mất con. Gia định báo số ngày
16-11-1809 đă trấn an các bậc làm cha mẹ,
"ngỡ là cho con đi học làm vậy th́ sợ e nhà
nước bắt con ḿnh mà đem đi Tây hay lệ
thuộc về nhà nước. Nhứt là các nơi xa xa
ruộng nương, rẫy bái, hễ có trát súc đ̣i
học tṛ, th́ cha mẹ đă xào xự, làm quá hơn là
sợ bắt lính lo chạy mướn đứa nọ
đứa kia con nhà nghèo cho nó đi thế cho con nhà
ḿnh." Hay trong Nam Kỳ địa phận số ngày
22-7-1909 lời một người cha khuyên con đi học
"tao dốt cũng đành, v́ hồi đó tây chưa
qua, chưa có lớp nhà trường như bây giờ... Qua
tới đời mày, lúc đó Lang sa đă lấy Nam
kỳ rồi, đây có lập nhà trường, lại ép
ai có con phải cho đi học, cơm áo nhà nước ban
cấp, sách vở bút mực khỏi mua, khỏi tốn, mà
hồi đó tao sợ cho mày đi học, họ bắt
đem về tây mất ṇi, cho nên nay mày chịu dốt, cái
th́ lỗi tại tao. Nay bây giờ mày có một con trai
tuổi nó cũng trương rồi, vậy phải cho nó
đi học, đặng nó biết một hai chữ, có
cái tờ cái khế, có nó coi, khỏi mượn chai ai"
(trang 558).>>
- Thông tư, nghị định về
việc bác bỏ chữ nho và dùng chữ quốc ngữ
(3).
<<(3) Về nội dung những thông
tư, nghị định này chúng tôi đă tŕnh bày trong
"Chữ văn quốc ngữ" thời kỳ Pháp
thuộc, nhà in Nam Sơn Sài G̣n 1974, từ trang 25 đến
trang 51. >>
- Nghị định 22-2-1869 bó buộc dùng
quốc ngữ trong giấy tờ chính thức.
-
Nghị định 6-4-1878 về việc dùng chữ Annam
bằng mẫu tự la tinh.
-
Thông tư 28-10- 1879 về việc băi bỏ chữ nho và
dùng mẫu tự la tinh.
Nhà cầm quyền Pháp đă ra những
thông tư, nghị định chính sau đây về văn
hóa giáo dục.
Học chánh:
- Nghị định 17-3-1879 về tổ
chức nền học chánh mới ở Nam kỳ.
-
Nghị định 14-6-1880 thiết lập ở mỗi
làng, thị xă trường dạy chữ quốc ngữ.
Cần lưu ư một điều quan
trọng sau đây: những ông quan nhà binh cai trị
thời kỳ này đă quan niệm thế nào về
chữ quốc ngữ và công dụng của nó? Họ coi
chữ quốc ngữ dễ học v́ là một thứ
chữ b́nh dân, cho b́nh dân tŕnh độ tiểu học là
cao nhất, dùng để học thông cáo, sách báo phổ
thông hoặc giao dịch hàng ngày không phải là thứ
chữ văn hóa như tiếng Pháp, chữ nho dùng trong
việc nghiên cứu khoa học hoặc dạy học
ở cấp trung, đại học. Trong viễn
tượng thực hiện triệt để nhanh chóng
chính sách đồng hóa, biến người Việt thành
Pháp về văn hóa, họ khinh thường chữ
quốc ngữ, chỉ coi là một công cụ chuyển
tiếp trong thời kỳ quá độ "tiến lên"
chữ Pháp nghĩa là chữ quốc ngữ sẽ bị
xóa bỏ tiêu ma sau khi đă thực hiện xong mục tiêu
đồng hóa. Do đó khi người Pháp cưỡng bách
học quốc ngữ, nhằm phát huy văn chương
văn hóa dân tộc mà chỉ v́ cho nó là một công cụ
tiện lợi chuyển tiếp mà thôi (cũng dùng
những kư hiệu như chữ Pháp) như có thể
thấy trong phát biểu của Landes một quan cai trị
lâu năm Chợ Lớn và cũng dịch ra Pháp văn
nhiều chuyện văn học dân gian (4).
<<(4) Landes. Notes sur le Quôc ngư. Bulletin
de S.E.I ler semestre 1886 hay trong chữ Quốc ngữ trang 63.
>>
Về nếp sống, người Pháp
ở Sài G̣n cũng muốn biến Sài G̣n thành Paris thứ
hai như bài hát J'ai les deux amours đă muốn diễn
tả hai mối t́nh là Paris và Sài G̣n. Paris có ǵ, Sài G̣n cũng
phải có: mốt quần áo, món ăn. Những đoàn
kịch của Paris thường sang tŕnh diễn ở
Singapore được mời đến Sài G̣n theo một
lịch định kỳ một nửa thời gian ở
Paris, một nửa thời gian ở Sài G̣n. Sài G̣n cũng
yêu cầu Paris gửi các tác phẩm nghệ thuật sang
triển lăm v́ ở Sài G̣n việc bảo vệ các nghệ
phẩm không thua ǵ Paris. Hơn nữa Sài G̣n c̣n yêu cầu
triển lăm xong, được giữ lại làm bản
sao, v́ những bức họa hư hỏng nhanh hơn
ở các kho lưu trữ tại Ṭa Đô sảnh bên Pháp do
chuột gậm (1). Báo Pháp ở Sài G̣n cổ vơ việc
người Pháp sang nghỉ hè ở Sài G̣n và mang vợ con
sang ở hẳn Sài G̣n để củng cố niềm tin
vào sự phát triển thành phố (2). Người Pháp
cũng muốn người Việt, Pháp hóa nhanh chóng trong
cách mặc theo âu phục và ăn cơm tây. Những
cuốn sách nấu ăn bằng tiếng Việt và Pháp
đầu tiên được xuất bản rất
sớm:
<<(1) Biên bản Hội đồng
quản hạt Procès-verbaux du Conseil colonial séance 26-6-1905 trang
53.
(2) Ngay từ hồi 1865, báo Pháp đă ca
tụng De la Grandière v́ đă làm gương mang cả gia
đ́nh sang ở Sài G̣n sau kỳ hè.>
1 - Petite cuisine bourgeoise en annamite. Bổn
dạy nấu ăn theo phép Tây. Tân Định bản in
địa phận Sài G̣n 1889. (3)
<<(3) Trong lời tựa, tác giả nói
làm sách này không phải cho nhà giàu v́ họ mướn
được người giỏi rồi nhưng cho
người đủ ăn đủ mặc chưa
biết nấu, để biếu nấu và biết
lấy vị annam thế vị tây không có, sách bán chạy,
in lần thứ nhất 352 trang, lần thứ 3 1914, 61
trang.>>
2 - La véritable cuisine étrangère. Trần Văn
Lộc. Chính thật sách nấu ăn bằng quốc âm.
Nouvelle Edition. Chỉ nhằm Pháp hóa hiện đại hóa
Sài G̣n trong viễn tượng thực hiện chính sách
đồng hóa, nên những người Pháp đầu tiên
ở Sài G̣n không muốn nghĩ đến những công
tŕnh t́m hiểu, bảo vệ cổ sử Việt Nam
như thấy trong cuộc tranh luận ở Hội
đồng quản hạt xem có nên lập một Viện
bảo tàng ở Sài G̣n hay không? "Thật hiển nhiên Sài
G̣n là thành phố qua lại của các du khách đến
Đông Dương, Trung Hoa, Nhật Bản, không phải
Hải Pḥng hay Hà Nội. Nhưng việc lập một
Viện bảo tàng ở đây chỉ cho thấy một
lợi ích rất mơ hồ đối với du khách ghé
Sài G̣n, thủ đô của Đông Dương. Đă
hẳn đó cũng sẽ là thêm một điểm
hấp dẫn nhưng quả thực việc triển lăm
này không làm say mê được du khách là bao. Chỉ lâu lâu
mới thấy vài nhà khảo cổ chú ư t́m những viên
đă cổ không thấy ở Nam kỳ mà chỉ thấy
ở Cao Miên, Trung kỳ, Lào, Bắc kỳ". Do đó
nếu cần th́ chỉ nên xây ở Sài G̣n một bảo
tàng viện có tính chất thương mại, kỹ
nghệ và nghệ thuật thôi (4), nói cách khác Bảo tàng
viện về cổ sử để dành cho Trung kỳ,
Bắc kỳ lâu. Tuy nhiên Sài G̣n vẫn có một bảo tàng
viện về cổ sử v́ Bác sĩ Holbé chủ một
tiệm thuốc tây lớn ở Catinat đă sưu tầm
được trên 20 ngàn hiện vật trị giá hơn
30 ngàn quan muốn tặng cho thành phố, Blanchard de la Brosse
lại là người thích đồ cổ nên mới
thuận trích tiền quĩ để xây dựng bảo
tàng.
Tâm lư lạc quan, phấn khởi của
người Pháp thời đó được biểu
lộ trong bài lập trường của báo "Le
Saigonnais" số 93, ngày 17-2-1884 nhân kỷ niệm 25
năm chiếm Nam kỳ: "Dưới một chánh
quyền dân chủ, người ta không ăn mừng
một cuộc chinh phục bạo lực, hoặc một
biểu dương hân hoan. Lực lượng vơ trang,
nhưng người ta vui mừng v́ thể hiện
được dần dần chính sách đồng hóa
đưa đến văn minh, v́ những tư
tưởng tiến bộ thâm nhập mỗi ngày một
cách b́nh thường vào một dân tộc đă qui
thuận... Nam kỳ là mảnh đất đă
được tách rời khỏi lănh thổ của
một ông vua chuyên chế đông phương có thể
trong ṿng 25 năm trở thành một mảnh đất Pháp
trong trái tim, trong tư tưởng và trong khát vọng. Nam
kỳ sẽ chia thành những hạt có những ṭa án
quận và do đó sẽ trở thành một mảnh
đất Pháp được trang bị đầy
đủ tất cả các thể chế của mẫu
quốc trên bờ Thái B́nh Dương.
Tâm lư lạc quan phấn khởi trên cũng
được những người Việt trong Hội
đồng quản hạt chia sẻ qua việc họ làm
kiến nghị cùng với người Pháp, yêu cầu bác
bỏ chế độ bản xứ (indigénat) "sau 50
năm làm thuộc địa và gần 20 năm qua không có
một cuộc nổi dậy nào dù chỉ là nhỏ bé,
không có một cuộc bạo loạn nghiêm trọng nào
đe dọa hoặc phá rối trật tự công cộng.
Dân chúng bản xứ đă nh́n nhận một cách thẳng
thắn những quan điểm mang tính chất ḥa hoăn mà
mẫu quốc đă đề nghị với họ.
Họ yêu cầu băi bỏ những luật lệ đă
được thiết lập hồi đầu thuộc
địa, những luật lệ này có thể c̣n cần
thiết ở các nơi khác trong Đông Dương, (chúng
tôi gạch) trái lại ở Nam kỳ không cần nữa
mà c̣n có hại, v́ trong thực tế nhiều lạm
dụng phiền nhiễu bắt bớ vô cớ, kết án
bất công vẫn xảy ra." Kiến nghị... yêu
cầu băi bỏ chế độ bản xứ do Nghị
định 31-5-1892 v́ người bản xứ rất
khổ cực phải chịu đựng chế
độ kể trên kư tên: Blanchy, Monceaux, Schégeans, Holbé,
Bousquet, Nên, Quang, Diệp, Thuận, Minh, Toán (1).
<<(1) Procès-verbaux du conseil colonial séance 2
Nov.1901 trg 127.>>
Căng thẳng trong quan hệ Trung
ương (phủ Toàn quyền) và địa phương
(Hội đồng quản hạt). Cho đến nay,
trước những chính sách khác nhau mà người Pháp
đă áp dụng cho bản xứ (Nam, Trung, Bắc) luận
điểm thường được đưa ra coi
đây là một chính sách "chia mà trị" của
thực dân. Đọc tài liệu của Pháp, chúng tôi
chưa hề gặp chỗ nào họ nói họ chủ
trương như thế nên chúng tôi e rằng đó
chỉ là lối nh́n của người Việt Nam,
một lối nh́n "đánh giá quá thấp"
người Pháp về chính phủ v́ chỉ coi đây là
thủ đoạn chính trị. Nếu bây giờ
người Việt cũng phải nhận v́ t́nh h́nh, hoàn
cảnh khác nhau giữa ba miền về các mặt địa
lư, khí hậu, tâm lư v.v... nên cần có những chủ
trương khác nhau cho thích hợp th́ người Pháp
hồi mới sang Việt Nam lại không có thể nhận
thấy điều đó và chủ trương như
vậy sao? Sâu xa hơn nữa, chính những yếu tố
địa lư, chính trị khác nhau cũng làm cho người
Pháp chia rẽ, chống nhau tùy như họ sống lâu
ở miền nào và nh́n vấn đề địa
phương, hoặc vấn đề mối quan hệ
trung ương địa phương từ miền mà
họ sống ở lâu. Chẳng hạn t́nh trạng
căng thẳng đôi khi mâu thuẫn giữa phủ toàn
quyền ở Hà Nội và Hội đồng quản
hạt ở Sài G̣n. Sự kiện này cho thấy những
yếu tố địa lư chính trị quy định
lối nh́n của bất cứ ai (Tây, ta) sống ở trong
một vùng địa lư chính trị giống nhau. Ví sự
khác biệt giữa các miền về khí hậu, tài nguyên
thiên nhiên, đất đai v.v... đưa đến
những quyết định coi Nam kỳ là thuộc
địa và Bắc Trung là bảo hộ, đă
được nói đến nhiều, chúng tôi không cần
nói thêm, nhưng về mặt văn hóa, ít được
nói đến, nên chúng tôi xin trích dẫn một vài nhận
định của người Pháp về văn hóa về
con người ở hai miền Nam Bắc biện minh cho
chính sách thuộc địa và bảo hộ. Ở miền
Bắc, vùng đất cũ, nền văn minh làng xă khá
chặt chẽ, con người đă gắn chặt
với nền văn minh đó, nên rất khó "thay
đổi được nền văn minh này bằng
nền văn minh Pháp". Không thay đổi
được th́ phải tôn trọng nó và lợi dụng
sự tôn trọng đó về mặt chính trị. Đó là
ư nghĩa của chính sách bảo hộ, trái lại ở
miền Nam là vùng đất mới, những người
lưu dân đến cư ngụ không c̣n giữ
được những truyền thống xưa cũ
một cách chặt chẽ, họ lại là người
tứ chiếng (Việt trà trộn với Tàu, Miên...) do
đó có thể tác động vào những cấu trúc
văn hóa lỏng lẻo này để thay thế chúng
bằng văn hóa Pháp. Đó là cơ sở của chính sách
đồng hóa và thuộc địa được áp
dụng ở Nam kỳ.
"Thật là tốt khi chúng ta có
trước mặt một xứ mà dân chúng không
đồng nhất lắm nên có thể dễ dàng áp
đặt một pháp chế mới, cũng không có những
truyền thống địa phương nên có thể
dễ dàng chấp nhận những thay đổi cầnn
thiết sau khi bị chiếm đóng. Tất cả
những điều trên đều t́m thấy ở Nam
kỳ, dân số ở rải rác khắp xứ gồm
người Tàu, người Việt, người Miên...
không có một tầng lớp quí tộc địa
phương, những người Việt di dân chỉ
đến ở mảnh đất này gần đây, c̣n
các viên chức hầu hết đều từ Huế
gởi vào."
Do đó, mặc dầu dân chúng
được chính phủ Annam luôn luôn kích động,
việc b́nh định vẫn diễn ra nhanh chóng hơn
các nơi khác. Chỉ cần thay thế một nền hành
chánh đầy dẫy những sai lầm của quan
lại bằng một nền hành chánh khác là đủ cho
dân Annam chuyển từ một thể chế này sang
một thể chế khác không qua thời kỳ chuyển
tiếp". (1)
<<(1) Vienos, luật sư ủy viên
Hội đồng quản hạt, chủ nhiệm báo
l'Independant de Sài G̣n số 725 (21-7-1883). >>
Những sự khác biệt về
địa lư chính trị, văn hóa cũng làm cho
người Pháp chia rẽ nhau, bất đồng với
nhau.
Những người Pháp cầm quyền
ở Sài G̣n nh́n ra khỏi Sài G̣n và Nam kỳ, họ không nh́n
về phía Bắc (Trung, Bắc kỳø) mà về phía Tây,
ngược ḍng sông Cửu Long (Cao Miên, Thái Lan, Lào). Theo
Taboulet, một nhóm sĩ quan viên chức trẻ tuổi
rất hăng hái tụ họp quanh Francis Garnier, quan cai
trị Chợ Lớn để bàn bạc hoạch định,
những cuộc thăm ḍ thám hiểm sông Cửu Long. Tháng
11-1864, Bonard đă gởi cho Bộ trưởng một báo
cáo về sự cần thiết phải khai thác sông Cửu
Long để làm cho Sài G̣n ở Nam kỳ trở thành
một kho hàng hóa buôn bán với Trung Quốc. Trong những
dự định khai thác này, có cả kế hoạch
thiết lập một đường xe lửa Sài G̣n -
Nam Vang ngược lên theo ḍng sông Cửu Long, chứ không
phải theo bờ biển Nam Hải qua Trung kỳ, Bắc
kỳ (2).
<<(2) Trong một báo cáo đọc ở
Hội đồng quản hạt, một người tha
thiết đến vấn đề này chống lại
việc Nam kỳ chi tiền cho những thăm ḍ
thượng lưu sông Cửu Long, v́ chỉ có lợi cho
Bắc kỳ và chỉ nên thăm ḍ vùng hạ lưu sông
này mà thôi. Xem La mission du Haut - Mékong au conseil colonial (1-1893)
observations présentées par le Docteur Mongeot Conseiller colonial, président
de la sociéte des Etudes ind Colon à Ke-Logners (Haut Camb) SG Imprim??? Nouvelle
1893.>>
Đường lối trực trị,
đồng hóa và tự trị của người Pháp
ở Nam kỳ chống lại đường lối liên
hiệp, thống nhất của toàn quyền Paul Bert
muốn thiết lập một thứ Hàn lâm viện
gồm 40 ông nghè (đậu tiến sĩ) ở Hà Nội
để lo phát huy văn chương Việt Nam, bảo
vệ các di tích lịch sử, thư viện, dịch các
tác phẩm Pháp ra văn quốc ngữ, v.v... Trong thực
tế ngay cả sau khi Pháp đă thiết lập chế
độ bảo hộ ở Bắc kỳ, Trung kỳ, ba
miền không có một liên lạc ǵ. Năm 1887, một ông
Toàn quyền Đông Dương được bổ
nhiệm nhưng chỉ có quyền hành ở Bắc, Trung
kỳ, v́ không nắm được ngân sách Nam kỳ.
Một người Pháp đương
thời đă ghi lại t́nh h́nh này: "Trước 1897,
Nam kỳ hồi đó cũng như bây giờ
được ông Thống soái cai quản hoàn toàn thoát
khỏi hành động của Toàn quyền mà danh vị không
đủ áp đặt ở cái thuộc địa vô
kỷ luật này. Đời sống chính trị và kinh
tế chỉ dựa vào hai lực lượng duy nhất:
Hội đồng quản hạt, do các viên chức
bầu ra sử dụng mọi tài nguyên, hầu như toàn
quyền "ở thuộc địa và dân biểu c̣n
tăng cường cho thế lực trên bằng cách can
thiệp và binh vực nó ở Paris, ở Bộ, v́ muốn
thoát ly ra khỏi liên hiệp Đông Dương, nhóm chuyên
quyền này đă phát động một chiến dịch
tuyên truyền rầm rộ đ̣i cho Nam kỳ
được tự trị, một chiến dịch xuưt
thành công vào cuối năm 1895" (1). Nguyên nhân động
cơ chính của sự chia rẽ và ư đồ tự
trị là ǵ? V́ Nam kỳ tự túc được, c̣n
phải nuôi cả Đông Dương. "Nhưng của
cải về tài chính lại cao mà xứ nhỏ bé này,
chỉ rộng gần gấp đôi nước Bỉ có
một dân số trên hai triệu (2.960.425 người) theo
kiểm tra năm 1901 đă bị giảm sút vào quăng ba
phần tư, phần dư c̣n lại dùng để chi cho
các nhu cầu của cả Đông Dương (1).
<<(1) Lieutenant-colonel Lubanski, L'indochine
française en 1902 Reveindoch. No 264, 9 Nov, 1903 page 1028.>>
Thật dễ hiểu khi những
người cầm quyền ở một vùng đất có
thể tự túc về kinh tế lại không
được tự trị về chính trị, bị
những người cầm quyền ở đâu xa, mà
họ phải chi viện đều đều (Ngân sách Nam
kỳ chi cho Ngân sách Bắc kỳ hàng năm 30%, những
năm Bắc kỳ mất mùa, lụt lội, ngân sách là
số 0, th́ phải chi viện nhiều hơn) hoặc
tiền đặt mua hàng không trả đúng hẹn, ṣng
phẳng (chẳng hạn đặt in ở các nhà in Sài
G̣n) lại lấy danh nghĩa Trung ương cấp trên
để đối xử một cách mà họ cho là không
thích đáng, nên họ đ̣i tách Nam kỳ ra khỏi
Đông Dương.
"Hành chánh Bắc kỳ, thật vô ích
nếu phải nhắc lại, cần độc lập
với nền hành chánh Nam kỳ" hoặc "Những
ủy viên đối lập trong Hội đồng
quản hạt đều nhất trí đ̣i tách Bắc
kỳ ra khỏi Nam kỳ" (1).
<<(1) Blancsubé (dân biểu của Đô
trưởng Sài G̣n) báo L'independant de Jacgui số 129 -
31-7-1883.>>
Nhưng dĩ nhiên Toàn quyền chống
lại những dự định đó.
Paul Doumer là người giữ
được sự thống nhất Đông Dương
về mặt hành chánh, tài chánh và sau đó thực hiện
được sự thống nhất cả về giao
thông.... chỉ trích gay gắt Hội đồng quản
hạt Nam kỳ thực sự nắm quyền hành chứ
không phải Thống soái Nam kỳ v́ những người
này chỉ nghĩ đến quyền lợi của
họ.
"Các ông biết t́nh h́nh Đông
Dương cách đây 5 năm lúc tôi sang với các cộng
sự viên của tôi, xứ này bị chia ra làm 3 thuộc
địa nhỏ, được cai trị khác nhau
từng thời kỳ, mỗi miền bị chiếm
đóng lúc nào. Ở Nam Kỳ người ta thấy
đúng là những mô phỏng (caricatures) các thể chế
tự do ở mẫu quốc, một cái ǵ mà người
ta cho là giống như phổ thông đầu phiếu, các
nghị viên dân biểu, một hội đồng quản
hạt do người Pháp bầu ra. Ở giữa cái
hỗn loạn hành chánh đó, người ta gặp
một ông Toàn quyền chỉ là ông quan cai trị Bắc
kỳ, đôi khi ông xuất hiện ở các xứ khác,
nhưng chẳng có quyền hành ǵ và chẳng hành
động ǵ được." (2)
<<(2) Paul Doumer. L'Indépendant française
souvenirs, trang 72.>>
Những người Pháp bênh vực Toàn
quyền th́ cũng cho rằng những người Pháp
cầm quyền ở Nam kỳ chỉ nghĩ đến
quyền lợi riêng.
"Một tay thực dân kỳ cựu, ông
Blanchy, đô trưởng Sài G̣n đă lợi dụng t́nh
trạng yếu kém của các xếp lớn để làm
giàu thiệt hại đến quyền lợi quốc gia,
rồi tự tạo cho ḿnh một quyền lực
thực sự. Ông Blanchy coi việc quản lư thành phố
như của một quốc gia trong một quốc gia,
đă yêu cầu vào năm 1896 bải bỏ Liên bang Đông
Dương... Nhưng không may cho ông Đô trưởng Sài
G̣n, và may cho Pháp, ông Doumer đă sang với ư định
quyết tâm củng cố Liên bang trên...". (3)
<<3. Et. Richet, l'Indochine française a l'heure
pésente, une Oeuvre de P.Doumer Revue Indoch. No 1944 - 7-7-1902 trang
601.>>
Paul Doumer, theo Taboulet đă bất chấp
những đ̣i hỏi của chính sách địa
phương ở miền Nam Việt Nam bất măn v́
bị tước đoạt tư cách thủ đô
của Sài G̣n để nhường lại cho Hà Nội
(1) và do đó nh́n trong viễn tượng cả Đông
Dương th́: Những chính sách ngăn chặn của
Hội đồng quản hạt đă cản trở
đà phát triển chung của công tŕnh thực dân. (2)
<<1. Taboulet, sách đă trích dẫn trang
901.
2. Jean Chesnaux. Contribution à l'histoire de la nation
vietn. E.sociales. Paris 1955, trang 152.>>
Paul Doumer thiết lập đường xe
lửa Hà Nội - Sài G̣n, dọc theo bờ biển,
nhưng phải đợi 35 năm sau mới hoàn thành,
chậm trễ như vậy v́ nhiều lư do (thiếu
tiền) nhưng cũng có lư do Sài G̣n không mau lẹ đáp
ứng như một người ủng hộ
đường lối Paul Doumer đă nói thẳng ngay trong
câu đầu bài diễn thuyết về đường xe
lửa xuyên Việt "Bắc kỳ và Nam kỳ đă
sống nhiều năm trong một t́nh trạng phân cách và
h́nh như thù địch, những khó khăn giao thông làm cho
Hà Nội xa cách Sài G̣n như Marseille đối với Le
Caire và làm cho ngay cả người Pháp không c̣n thấy cái
lợi chung của cộng đồng, người Nam
kỳ và Cao Miên lư luận đối với xứ Bắc
kỳ giống như lư luận của tay chơn
đối với bao tử, phiền trách những chi tiêu
mà Sài G̣n phải gánh chịu, c̣n Hà Nội th́
được hưởng thụ ít ra là theo vẻ bề
ngoài (3). Trong bài diễn văn khánh thành đường xe
lửa xuyên Việt do Gassien Tổng thanh tra Công chánh Đông
Dương đọc ở Sài G̣n ngày 2-10-1936 có nhắc
lại ư định của Paul Doumer quan niệm về
thống nhất kinh tế ba xứ không có quan hệ giao
thông với nhau mỗi xứ sống khép kín - Trung kỳ là
một chuỗi đồng bằng nhỏ tiếp nối
nhau bằng một con đường mà chỉ
người đi ngựa hoặc đi bộ qua lại.
C̣n chỉ cần ra khỏi Sài G̣n 30 cây số về phía
Bắc là đă thấy những miền hoang vu không thể
xâm nhập được, mặc cho thú rừng tung hoành,
không có đường xá ǵ hết. Tỉnh Biên Ḥa là
giới hạn cực bắc của miền
được biết đến, và khi tôi hỏi có ǵ
ngoài ấy, người ta trả lời: Rừng, rồi
núi và cái xa lạ! (4)
<<3. Hanoi - Saigon direct - Bulletin SEI No 1, 1924
Saigon.
4. Inauguration du Transindochinois - Discours prononcé à
Saigon par M. Gassien, Inspecteur Général des Travaux publics de l'indoch. Oct.
1936 B.SEI No 3-1936, page 151.>>
Thất bại và ảo tưởng: Chính
sách của những người Pháp ở Nam kỳ
thất bại về kinh tế, v́ họ không đủ
khả năng điều kiện để khai thác, phát
triển nhanh ở Nam kỳ và ngược ḍng sông Cửu
Long như họ mơ ước, hoặc thiết kế
một thành phố cho 500.000 người. Khí hậu ở
Nam kỳ cũng không thích hợp. Hàng năm họ vẫn
phải về Pháp nghỉ hè. Do đó họ nhận ra không
thể coi Nam kỳ là một thuộc địa di dân, mà
chỉ nh́n như một thuộc địa khai thác mà thôi.
Chỉ trong thời thế chiến hai v́ không thể
về Pháp nghỉ được, nên người Pháp
bắt buộc mở mang Đà Lạt, biến thị xă
này thành một thành phố như bên Pháp.
Về văn hóa, giáo dục, người
Pháp c̣n thấy thực tế Nam kỳ cũng không như
họ đă nhận định, ước muốn.
Họ không có đủ tiền để mở các
trường làng, xă để dạy chữ quốc
ngữ cho đến năm 1907 như một người
Việt trong Hội đồng quản hạt đă
nhận xét: ba phần tư làng ở Nam kỳ không có
một người nào, một học tṛ nào xuất thân
từ trường làng biết đọc chữ quốc
ngữ hoặc bốn phép tính. Hậu quả là mỗi lư
trưởng nhận được một lịnh ǵ
phải đi thật xa kiếm một ông biện
để xin đọc giải thích. Chữ nho th́ bị
bỏ từ lâu không c̣n thông dụng. Thầy đồ
không dạy chữ nho nữa v́ nghề của họ không
làm cho họ sống được nghĩa là người
Annam không muốn gởi con đến các trường
tư, họ có lư v́ chữ nho không để làm ǵ cả.
Mỗi người đều có quyền cho con học
chữ quốc ngữ. Nhưng điều tai họa là
trường quốc ngữ rất thiếu ở các xă,
nên trẻ con Annam không được dạy dỗ ǵ cả
và do đó không thể tránh được trở thành
những đứa trẻ ngu dốt, mất dạy,
cư xử như xúc vật (1). Trầm trọng hơn
nữa, ngay cả những trẻ được học
chữ quốc ngữ cũng có thể mất dạy v́
chúng chỉ được học chữ mà không
được học nghĩa (đạo nghĩa), nhà
trường dạy quốc ngữ chỉ đào tạo
những đứa trẻ biết đọc biết
viết và biết một số kiến thức thông
thường, không được học đạo lư,
không có kiến thức về luân thường đạo
lư, làm sao có cơ sở tinh thần để biết tuân
giữ pháp luật, tôn trọng kẻ cầm quyền. Những
kiến thức về luân thường đạo lư
chỉ có trong các sách bằng chữ nho là thứ chữ mà
người Pháp muốn xóa bỏ v́ nó đưa vào một
văn hóa khác không phải văn hóa Pháp. Trước t́nh
trạng bế tắc đó, đề đốc Dupré
buộc phải lập Ủy ban nghiên cứu gồm
nhiều học giả am hiểu văn hóa Việt Nam và v́
thế không tán thành chủ trương đồng hóa thô
bạo. Cả ba phúc tŕnh của Luro, Philastre và linh mục
Le Grand de la Liraye đều đồng ư với nhau:
<<(1) Taboulet. Une enquête sur les méthodes
d'enseignement-rapporta de Luro, Philastre et le Grand de la Liraye (Commission
de l'Ins-truction publique) 1873 trang 592-598 chúng tôi đă trích
dịch nhiều đoạn trong "Chữ, văn
quốc ngữ" trang 102 - 106.>>
1. Về nguyên nhân thất bại việc
dùng chữ quốc ngữ.
(Trừ trong giới công giáo v́ con nít có sách
giáo khoa, sách đạo (truyện các thánh, kinh thánh in riêng)
để đọc và t́m thấy một lư tưởng
đạo đức để noi theo).
2. Và về biện pháp đề nghị:
soạn sách giáo khoa có nội dung đạo lư, dạy
lại chữ nho (1).
<<(1) Taboulet, sách trích dịch trang
584.>>
Sự thất bại trong chủ
trương dạy chữ quốc ngữ cho người
Pháp thấy sự thất bại của chánh sách
đồng hóa như đề đốc Dupré đă thú
nhận trong thơ gởi Tổng trưởng hải quân
ngày 6-11-1873: "Không có ǵ tế nhị hơn là sự thay
đổi những phong tục tôn giáo luật lệ
một dân tộc, đó là việc của thời gian.
Muốn áp đặt những thay đổi như thế
bằng quyền hành bao giờ luôn luôn cũng là xấu và
phản chính trị. Luật pháp Annam dựa theo Trung
Quốc, tuy có nhiều điều không hoàn toàn nhưng không
phải là một công tŕnh man rợ hay đáng khinh, v́ nó
dựa trên những nguyên tắc công chính không thể
chối căi được. Từ lâu nó vẫn
được áp dụng và dân chúng hiểu biết nó, không
muốn thay đổi. Muốn cải tổ toàn bộ
pháp luật như một số nhà luật say mê luật
pháp La mă và Napoléon chủ trương, là làm cách mạng, là
muốn gây xáo trộn sâu xa xứ này và đẩy họ
đến chỗ làm loạn. (1)
<<(1) Taboulet, sách trích dịch trang
584.>>
Sau cùng ngay cả những người
được đào tạo trong khuôn khổ văn hóa Pháp
du học về, trừ một thiểu số, cũng
không chối bỏ văn hóa dân tộc, trái lại chỉ
lợi dụng tinh thần văn hóa Pháp, thể chế
pháp lư Pháp (các Hội đồng, nghị định, báo
chí, quốc tịch Pháp) để chống Pháp dưới
mọi h́nh thức từ cải cách đến cách
mạng xă hội (Gilbert Chiểu, Nguyển An Ninh).
Từ những sự kiện như trên,
mới thấy có dư luận chống chính sách nhập
quốc tịch Pháp. Dư luận này cho rằng trừ
một số ít, c̣n đa số xin vào dân Tây là "Công
chức và lính tập, là hạng người đă từ bỏ
quê hương họ, tôn giáo họ, phong tục tập quán
của họ, tất cả những ǵ người ta
thường tôn trọng và nhất là người Annam
thường tôn trọng, chỉ để làm hài ḷng
cấp trên của họ, để được
những danh vị hưởng các ân huệ của nhà
nước và thực ra họ chỉ từ bỏ trên
đầu lưỡi, ngay cả những kẻ
'đồng hóa' hơn cả trong bọn họ, những
kẻ chúng ta đă xếp vào một loại đặc
biệt cũng là rất ít chấp nhận, những
tập quán của chúng ta v́ họ vẫn giữ bộ
đồ riêng theo quốc tịch của họ". (1)
<<1. L'indépendant de SAIGON, 28-10-1882 và
27-10-1882 >>
Những người vào làng Tây mà
người Pháp gọi là "Hạng công dân giả (simili
citoyens) không thể trở thành người Pháp
được v́ "nền tảng và lư do tồn tại
của các quyền dân sự và ḷng yêu quê hương.
Người Annam không thể quên được cộng
đồng ngôn ngữ, truyền thống, lịch sử
của họ." (2)
<<1. L'indépendant de SAIGON, 28-10-1882 và
27-10-1882 >>
Về phương diện sách báo, hồi
đầu khi người Pháp c̣n muốn biến Nam kỳ
thành một quận của nước Pháp, mang áp dụng
tinh thần, thể chế của Pháp, mặc dầu chỉ
là mô phỏng như P. Doumer đă nói, trong thực tế
vẫn có ít nhiều tự do ngôn luận cho nên tự do phê
b́nh đả kích trên giấy tờ, chưa phải là
một tội phạm pháp. Như vậy mới hiểu
tại sao chính người Pháp sưu tầm, dịch
giới thiệu những câu vè ca dao chống Tây đăng
trên tạp chí, như trường hợp Villard sau khi nghiên
cứu về văn chương Annam, sau khi giới
thiệu những câu ca dao chống chệc chống chà
đă nói đến những câu ca dao chống chúng ta
(Chỉ người Pháp): "Không thiếu ǵ đâu và
nhiều câu rất thâm thúy (Il n'en manque pas et de fort spiri-
tuelles (3) hoặc Trương Vĩnh Kư in thơ Bùi Hữu
Nghĩa trong Miscellanées (số 2 - 1889) hay Huỳnh Tịnh
Của in "Văn tế chiến sĩ Cần
Giuộc" trong sách "Gia lễ" được
Hội đồng quản hạt chuẩn tiền. Không
phải chỉ trí thức làm thơ chửi Tây như
Nguyễn Đ́nh Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu
Nghĩa hoặc đem in thơ chửi Tây, và không sợ
Tây bắt bớ hành hạ mà cả dân chúng lớp
dưới cũng chửi Tây không sợ ǵ cả như
thấy trong thơ một người Pháp gửi cho
chủ bút báo Independant de Sài G̣n ngày 16-7-1883 số 136.
<<3. Villard, Etudes sur la littérature annamite.
Bulletin SEI No 8, 1880 page 315.>>
"Cách đây vài hôm, tôi đang ở nhà
nghỉ trưa, một người Annam say rượu làm
ồn quá tại nhà bên cạnh. Tôi sang nhà anh ta yêu cầu
anh phát ngôn nhẹ đôi chút, anh ta vội vàng xin lỗi tôi
và hứa không làm ồn nữa... Nhưng tôi vừa về
nhà đă nghe người đó chửi rủa tôi bằng
tiếng Annam, dùng đủ mọi thứ bổ từ mà
tôi không thể dịch được v́ thô tục quá... Tôi
đến cơ bót cảnh sát, ông xếp cảnh sát cho
gọi người Annam hỗn xược đó lại và
thưa ông chủ bút, ông có biết ông xếp dọa
nạt người đó ra sao không?
Tôi xin thuật lại nguyên văn lời
ông xếp nói với một người bản xứ làm
thông dịch: "Anh hăy nói với anh ta đừng sợ
ông này đă đưa đơn kiện anh ta và ngày mai th́
anh sẽ bị ông chánh đội xếp kêu lên... anh hăy nói
với anh ta rằng anh ta có quyền ca hát suốt cả
ngày và ông ấy không có quyền ngăn cấm anh ta, chỉ
trừ ban đêm là không được làm ồn thôi".
Thưa ông chủ bút ông có tin đó có
phải là một cách tỏ ra tôn trọng nhân phẩm
của người Pháp không. Tôi sẵn ḷng nh́n nhận tôi
không có quyền ngăn cản người Annam làm ồn
trong lúc ngủ trưa, nhưng anh ta có quyền chửi tôi
không trong khi tôi chỉ xin anh ta để cho những
người ở bên cạnh anh ta nghỉ trưa và anh ta
không đáng bị quở trách nghiêm khắc, nếu không nói
là phải nhận một trừng phạt thực sự
sao?".
Nhưng sau khi người Pháp đă
nhận ra chính sách đồng hóa là ảo tưởng
họ không c̣n tự do nhân nhượng nữa, bắt
đầu thi hành một chính sách đàn áp cẩn thận,
tuy lúc th́ thô bạo lộ liễu, lúc th́ tinh vi kín đáo.
Từ sau thế chiến 1, bước vào thời kỳ
khai thác thuộc địa, chính sách kiểm duyệt,
với những thủ tục Pháp lư về truy tố ra
ṭa, cấm lưu hành, cấm tàng trữ. Những
người làm văn thơ không c̣n được tự
do như thời kỳ đầu thời kỳ (b́nh định)
và ngay cả là lời viết ám chỉ (mượn
lịch sử để nói chuyện bây giờ) cũng
không thể sử dụng được... (1).
<<(1) Đề cao những văn
thơ chống Pháp của những Nguyễn Đ́nh
Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị là
điều chính đáng. Nhưng đề cao đến
mức coi những văn thơ đó như những
cuộc bút chiến đấu tranh trên mặt trận
văn hóa, địch vận, dân vận th́ cái lối
hiện đại hóa đó thực ra lại hạ
thấp phong trào chống Pháp v́ nếu lúc đó mà đă có
Tổ chức lănh đạo qui mô như vậy (báo chí,
mặt trận...) th́ cuộc chiến đấu chống
Pháp kéo dài trên nửa thế kỷ phải được
đánh giá ra sao? Ngoài ra, chỉ đề cao những nhà
thơ trên mà quên phục hồi đông đảo những
con cháu các vị tiếp thu truyền thống của
đàn anh, nhưng đă bị bít miệng, đàn áp,
những người đă làm thơ văn trong một
thời kỳ đ̣i hỏi phải có một chút "can
đảm trí thức" thực sự chúng tôi
được biết có hàng trăm cuốn sách bị
cấm của các nhà văn nhà báo nhất là hội 1920 mà
hiện nay rất ít được ai nhắc tới và
chúng tôi cho đó là một bất công.>>
Những thuận lợi:
Dù sao, chính sách của Pháp ở Nam Kỳ,
lúc đầu và ngay cả về sau, lúc có kiểm soát,
kiểm duyệt, cũng vẫn nhiều thuận lợi
cho những hoạt động công khai hợp pháp và
muốn hiểu được tại sao một số
hiện tượng đă có thể xảy ra tồn
tại hoặc phát triển là v́ t́nh h́nh hoàn cảnh
thuận lợi hơn ở Nam kỳ so với các nơi
khác.
1) Công khai toàn bộ những hoạt
động của nhà nước về mọi mặt.
Đó là một đ̣i hỏi của thể chế dân
chủ. Trong tinh thần ấy, người ta mới
thấy Gia định báo không phải chỉ là một công
báo đăng rặt những thông tư, nghị
định như người ta vẫn tưởng và
nếu chỉ khô han như thế, dĩ nhiên chẳng có ǵ
hấp dẫn. Nhưng thực ra Gia định báo cũng
như mấy tờ báo Pháp cùng thời đều
đăng các hoạt động của nhà nước
về mọi mặt dưới dạng văn thư, phúc
tŕnh, biên bản những phiên họp các Hội
đồng, nội dung tranh luận, quyết định,
bản tin trong nước, ngoài nước dưới
dạng những điện tín, báo cáo, v.v... Chẳng
hạn Gia định báo số 20-5-1882 đăng toàn
bộ một phiên ṭa h́nh sự ở Bến Tre xử
một vụ giết người. Bây giờ phóng viên
chỉ tường thuật lại bằng cách
lược tóm theo quan điểm của ḿnh. Trái lại
thời đó, người đọc được
đọc nguyên văn bản cáo trạng, nội dung,
những chất vấn của quan ṭa và trả lời
của bị cáo, các quyết nghị của quan ṭa... Thông
tin như vậy chắc hẳn đầy đủ và
trung thực hơn một bài báo tường thuật theo
quan điểm của tờ báo. Lúc đầu đi vào
việc nghiên cứu này do thiên kiến Gia định báo
chỉ đăng rặt thông tư nhà nước, nên chúng
tôi đi t́m đọc những công báo hoặc báo Pháp
thời đó, nhưng khi đọc kỹ Gia định
báo mới thấy Gia định báo đăng hầu
hết những điều đă in trên các công báo, báo Pháp và
v́ thế tờ báo có thể cho biết nhiều
điều muốn t́m hiểu về thời kỳ này.
Người đọc bây giờ có thể thấy lư thú,
nhưng người đọc đương thời có
thể chẳng thấy lư thú ǵ, không phải v́ nó không
đăng những điều lư thú mà chỉ v́ khi đă
không ưa không theo th́ nó muốn nói ǵ hay dở cũng
mặc nó.
2) B́nh đẳng dân chủ trong thảo
luận ở Hội đồng quản hạt:
Trên danh nghĩa, Hội đồng chỉ
có quyền đề nghị, nhưng trong thực tế
những quyết định của Hội đồng
nhất là về ngân sách đều được chấp
nhận thi hành. Nói cách khác Hội đồng có quyền
hành thực sự không phải chỉ là tư vấn bù
nh́n, có tính cách tŕnh diễn. Đọc các biên bản
hội đồng, chúng tôi có cảm tưởng rất rơ
những người Pháp trong Hội đồng không
thấy họ có thái độ cha chú, hống hách,
độc tài, c̣n những người Việt không
phải là những tay sai hoặc viên chức thừa hành
ngoan ngoăn gọi dạ bảo vâng. Họ phát biểu tranh
luận thẳng thắn với người Pháp đưa
ra những phê phán và đôi khi cả những phản
đối gay gắt. Chẳng hạn về Gia định
báo có lúc thấy ngưng rồi lại tái bản, v́ trong
Hội đồng quản hạt có dư luận phản
đối như phát biểu của hội viên Thơ:
"Gia định báo chẳng giúp cho người Annam
hiểu biết điều ǵ cả, trừ một vài
thứ thuốc lang băm tự cho là có thể chữa
được nhiều bệnh." (Biên bản buổi
họp 2-12-1896 trang 152) Hội đồng có một ủy
ban thảo kiến nghị (Commission des voeux) có những
kiến nghị cả hội viên Tây, ta đều kư chung
như về yêu cầu băi bỏ chế độ bản
xứ (indigénat) hoặc chỉ riêng hội viên ta kư như
kiến nghị phản đối một số thừa
sai ḍng tu công giáo chiếm đất và yêu cầu nhà cầm
quyền đưa ra các biện pháp luật lệ bảo
vệ đất đai của dân chúng (Trần Bá Diệp,
Diệp Văn Cương, Dương Văn Mên, Nguyễn
Xuân Phong, Phan Tấn B́nh. Biên bản phiên họp 27-4-1907 trang
31).
3) Tự do kinh doanh kể cả trong lănh
vực văn hóa, báo chí:
Trong thời kỳ này có nhiều
người Pháp tư nhân, thường có cơ sở làm
ăn như báo chí, mở tiệm thuốc Tây, đứng
ra lập nhà in, nhà xuất bản, tiệm sách, ra báo không
phải v́ mục đích chính trị, văn hóa mà chỉ v́
mục đích thương mại như Đông Hồ
đă ghi nhận Sài G̣n có vài tờ báo quốc ngữ do
người Pháp xuất vốn quản lư, không phải
để kiếm lời về ra báo, không phải v́ yêu
quốc văn hay bênh vực quyền lợi người
Annam mà chỉ để bênh vực quyền lợi của
cá nhân, hội buôn. Muốn phổ biến hàng hóa phải
cho dân chúng đọc mới biết." (1)
<<(1) Sống: Công dụng của
quốc văn số 20 ngày 26-6-1935.>>
Chẳng hạn hiệu thuốc Tây Holbé
ở Catinat cho ra tờ Nam kỳ nhựt tŕnh mỗi
tuần in một lần nhằm ngày thứ năm (năm
thứ 1897). Đó cũng là trường hợp của
những tờ Nông Cổ mín đàm, Lục tỉnh tân
văn. Tư nhân Pháp cộng tác với tư nhân Việt
làm ăn buôn bán, dùng tờ báo để cổ vơ phát huy kinh
tế, thương mại... theo nguyên tắc tự do kinh
doanh cạnh tranh giữa các tư nhân và nhà nước
đứng ngoài không can thiệp vào dựa trên lề
lối các đề đốc nêu ra như đă nói ở
trên. Đó là điểm khác biệt với báo chí ở
miền Bắc trong thời kỳ này như Đông
Dương tạp chí, Nam Phong là những tờ báo chính
trị do nhà nước lập ra chỉ đạo
chặt chẽ. (2)
<<(2) Chúng tôi đă tŕnh bày trong
"Chủ đích Nam Phong" nhà xuất bản Nam Sơn
1974, dựa vào những hồ sơ của Sở mật
thám Phủ Toàn quyền và các báo cáo chính trị của Toàn
quyền hồi đó.>>
Nhà nước không nắm lấy (công khai
hay trá h́nh) báo chí (3) nhà xuất bản, cũng không kiểm
soát gắt gao sách báo, sách do tư nhân làm. Trường
hợp bị đưa ra ṭa, bị cấm, thường
chỉ cấm phổ biến ở Trung, Bắc kỳ và
vẫn được lưu hành ở Nam kỳ. Quá
lắm mới bị cấm cả ở Nam kỳ như
trường hợp các ấn phẩm của nhóm
Cường Học thư xă do Trần Huy Liệu chủ trương.
9 cuốn bị cấm ở miền Bắc, Trung, chỉ
có một bị cấm ở Trung, Nam, cho thấy trong Nam
vẫn có tự do ngôn luận hơn ngoài Bắc.
Trong thời kỳ này phong trào Duy Tân
được đề xướng ở cả hai
miền, nhưng miền Bắc Đông Kinh nghĩa
thục chỉ hoạt động được vài tháng
rồi bị đàn áp, tiêu diệt trong khi ở miền
Nam lại tồn tại phát triển lâu dài, chính thức là
một năm v́ lợi dụng được điểm
thuận lợi về tự do kinh doanh, tự do ngôn
luận kể trên.
Do đó có thể nói sinh hoạt văn
chương thời kỳ này ở miền Nam sở
dĩ phong phú hơn ở miền Bắc v́ lư do đơn
giản là đội ngũ nhà nho đông đảo có ít
nhiều Tây học vẫn giữ nguyên vẹn cả ba
thành phần? Thành phần chủ chốt lănh đạo
hoặc tham gia phong trào Minh Tân chống Pháp tập trung quanh
hai tờ Nông Cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn,
thành phần phi chính trị và thành phần thân Pháp trong khi
ở miền Bắc, thành phần lănh đạo tham gia
tích cực phong trào Duy Tân bị bỏ tù biệt xứ hay
bị cô lập chỉ c̣n những thành phần phi chính
trị hay đầu hàng theo Pháp như Nguyễn Văn
Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác hoạt động
trong điều kiện hạn chế về tinh thần
và nghèo nàn về phương tiện vật chất.
Điều trớ trêu hơn nữa, là ngay cả văn học
chữ Hán cũng phong phú dồi dào v́ ư đồ
"phải dạy đạo lư" để duy tŕ an
ninh trật tự như đă thấy ở trên, bằng
chứng là số sách dạy làm người, làm cha mẹ,
làm con cái, vợ chồng, loại ấn học khải
mông huấn tử "cách ngôn" ra quá nhiều do
người soạn nên Hội đồng quản hạt
đă dựa vào t́nh trạng đă có nhiều rồi mà rút
bớt trợ cấp ấn loát.
<<(3) Trừ một vài trường
hợp như Đại Việt tạp chí. A. Sarraut trao cho
Hồ Biểu Chánh hồi 1918.>>
Không thuận lợi:
Chính sách đồng hóa và xu hướng
tự trị của người Pháp như đă nói ở
trên đă làm cho người Pháp chỉ chú trọng phát
triển Nam kỳ và nếu có hướng ra ngoài Nam
kỳ, th́ lại hướng về phía Tây, không phải
về phía Bắc do đó có những hạn chế cho
người Bắc, Trung vào Nam, hoặc hạn chế sách
báo Nam ra Bắc v́ không muốn cho không khí tự do tiến
bộ, chỉ thích hợp với miền Nam tỏa ra
miền Bắc "Sách cấm ở miền Bắc, mà
vẫn được lưu hành ở miền Nam, và dĩ
nhiên cũng không nhiệt t́nh với việc phát triển
giao thông liên lạc giữa ba miền. Sau mấy chục
năm đă thiết lập chế độ thuộc
địa, miền Nam, miền Bắc vẫn tiếp
tục cách biệt như hồi vua chúa xưa: chỉ có
liên lạc bằng cáng, vơng đi bộ qua các trạm
để chuyển giấy tờ của nhà nước,
dân chúng không có liên lạc ǵ với nhau. Giả sử
đường xe lửa xuyên Việt được
đặt sớm hơn chứ không phải 35 năm, t́nh
trạng cô lập khép kín qua hai miền đă
được giải tỏa sớm hơn và do đó giao
lưu văn hóa đă xóa bỏ được hay ít ra
giảm bớt được những ngăn cách về
văn hóa. Chúng tôi xin dẫn mấy chứng từ sau
đây của mấy người cầm bút gốc
Bắc:
"Ấy là tôi biết ông qua mấy
chuyện "Châu về hiệp phố" và "Tiểu
anh hùng vơ kiệt" lúc ấy gởi ra bán ở Bắc
kỳ rất chạy thường thường là tôi không
bao giờ có tiền để mua. Đọc truyện Phú
Đức, tôi toàn đi thuê ở ba nhà sách gần nhà tôi
ở...! (1)
<<(1) Vũ Bằng. Cái thú nhất
đời của Phú Đức, Nguyễn Đức
Nhuận văn học số 136 ngày 15-9-1971, trang 78.>>
"Hồi Phụ nữ tân văn đang
thịnh hành, chỉ dân Bắc ham đọc báo chí trong Nam
thôi. Trái lại người Nam ít đọc văn Bắc
lắm. Đến khi báo Phụ nữ, Thần chung,
Đuốc Nhà Nam chết, ấy là lúc văn chương Bắc
Hà đổi mới, tiến bộ, t́m lối vào Nam.
Đọc báo Phong hóa và Loa, người Nam dần dần
hiểu và thích xem văn Bắc và vừa vặn lúc Trung
Bắc chủ nhật ra đời. Tờ tuần báo này
được độc giả Nam kỳ để ư
nhất và hoan nghênh nhất hiện thời... Dần
dần ngày nay, ở Sài G̣n, ai đứng trước
những hàng sách, đều phải công nhận sách vở
báo chí ngoài Bắc chiếm đến chín phần
mười. Ít có tư gia nào là không có tiểu thuyết
Bắc" (2)
<<(2) Vũ Xuân Tự. Túi bạc Sài G̣n,
tiểu thuyết Trung Bắc thư xă Hà Nội 1941, trang
78.>>
Nhưng chính sách của Pháp ở Nam kỳ,
nhất là thời kỳ đầu đă tạo ra một
mối đe dọa lớn, đe dọa mất gốc.
Một số lựa chọn hướng hoạt
động văn hóa và chính trị của trí thức
miền Nam thời kỳ đó chỉ có thể hiểu
như một đảm nhận vai tṛ lịch sử đặc
biệt đối phó với sự thách thức của
mối đe dọa kể trên, mà chúng tôi đă t́m hiểu
trong chương "Lịch sử Việt Nam nh́n từ
miền Nam".
II. ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA TÂY
PHƯƠNG
Một thiên kiến khác liên hệ với
thiên kiến miền Nam không có truyền thống văn hóa
dân tộc dựa trên Nho học là miền Nam tiếp xúc
sớm với văn hóa Tây phương và chịu ảnh
hưởng nặng... ảnh hưởng nặng phải
hiểu là mất gốc tây hóa.
Miền Nam tiếp xúc với văn hóa Tây
phương, cụ thể là văn hóa Pháp sớm hơn
cả. Điều này đúng v́ miền Nam bị Pháp đô
hộ sớm hơn các miền khác trên 20 năm. Pháp
lại thi hành một chính sách đồng hóa triệt
để vào thời kỳ đầu, muốn biến
miền Nam kỳ thành một quận hạt Pháp, nên cái ǵ
Paris có th́ Sài G̣n cũng có và rất sớm.
Chẳng hạn: Hát h́nh máy (cinématographe)
được đưa sang Sài G̣n sau độ 10 năm
phát sinh ra. Theo báo Nam kỳ nhựt tŕnh đưa tin về
cuộc hát h́nh máy ở đường Kinh lấp (Charner)
th́ hiện tượng giải trí này đă gây một
ngạc nhiên thích thú cho người Sài G̣n. Trên màn ảnh
trắng, chiếu một cái đầu chết chém nói
chuyện cuộc đó thật phi thường lắm và
đáng cho thiên hạ coi" như Trương Minh Kư,
với bút hiệu Mai Nham đă ghi lại bằng mấy
vần thơ trong mục Tiếu đàm truyện: Hát bóng
máy xây (cinématographe)
Sài G̣n phía chợ dựa bên đường
Rạp lá gây nên một hư trường
Chiêng dậy vang tai người rộn
rực
Đèn chong chói mặt chúng chàng ràng
Dọi h́nh nhân vật dường như
sống
Nghe tiếng đầu không cũng dị
thường
Tay khéo tài hay bày cuộc lạ
Ước trông ai nấy thấy cho
tường. (1)
<<(1) Nam kỳ nhựt tŕnh số 81 ngày
18-5-1899, số 83 - 1-6-1899, số 84 ngày 8-6-1899.>>
Nhưng miền Nam có chịu ảnh
hưởng văn hóa Pháp nặng không và về
phương diện nào?
1) Nếp sống hàng ngày: Qua cách ăn
mặc ở, phong tục tập quán giao tế. Chúng tôi
chưa t́m hiểu về phương diện này một
cách thật nghiêm chỉnh có cơ sở dẫn chứng.
Chỉ xin nêu lên một nhận xét: Có lẽ người ta
đă dựa vào một vài hiện tượng, tên gọi
một số người không phải là Nguyễn,
Trần mà là Albert, Gilbert, Gaston Trần và những
người Việt nói chuyện với nhau bằng
tiếng Pháp như người Pháp hoặc vẫn nói
tiếng Việt Nam nhưng pha lẫn rất nhiều
từ, câu tiếng Pháp.
Nhưng thực ra những người vào
làng Tây rất ít so với tổng số dân chúng Nam kỳ.
Ngay trong số người đó, cũng có những
người yêu nước, chống Pháp thực sự,
dựa vào Pháp mà chống Pháp như Gilbert Chiểu và
những người theo gương ông sau này.
Ở ngoài đường phố, nơi
công sở th́ là Tây, nhưng trở về đời tư,
nếp sống gia đ́nh, rất nhiều gia đ́nh
"tây hóa" vẫn giữ những phong tục, lễ
nghĩa cổ truyền c̣n chặt chẽ hơn cả
những gia đ́nh nho phong ở miền Bắc. Nhiều
người tây học hoàn toàn vẫn khăn đóng áo dài
như các ông đồ nho.
V́ thế phải chăng thiên kiến trên
sở dĩ có là v́ khái quát một vài sự kiện quan sát,
ghi nhận nhân một chuyến đi vào Nam kỳ một
hai tháng và chỉ được nh́n thấy những cái bên
ngoài xă hội, mà chưa có dịp đi sâu giao dịch thân
t́nh trong chỗ riêng tư như trường hợp
Phạm Quỳnh mà chúng tôi đă giới thiệu?
2) Lập trường tư tưởng,
chủ thuyết về văn học, triết học, tôn
giáo...
Qua một số báo, sách xuất bản
trong thời kỳ này mà chúng tôi đă đọc, chúng tôi
thấy rất ít những bài giới thiệu, đề
cao văn hóa Pháp (các tác giả triết học, văn
học, các trường phái học thuyết xă hội, các
tôn giáo). Đó là một sự kiện. Trong chương:
Lịch sử Việt Nam nh́n từ miền Nam, chúng tôi
đă giả thuyết đưa ra hai lư do giải thích, lư
do chính trị và ư thức hệ. Để chống
lại chính sách đồng hóa về văn hóa, những
người trí thức làm văn hóa ở miền Nam
thời kỳ đó phải né tránh việc tuyên truyền
phổ biến văn hóa Pháp bị chế độ
thực dân lợi dụng và đề cao văn hóa
truyền thống dân tộc dựa trên Nho học. Ở
đây chúng tôi cho rằng có lẽ c̣n một lư do nữa
về văn hóa: trí thức ở vùng đất mới
không nhạy cảm với văn hóa Pháp.
Chúng tôi nghĩ đến nguyên nhân thứ
ba về văn hóa khi t́m hiểu ảnh hưởng
của trường học (tiểu và trung học) theo
chương tŕnh Pháp hay Pháp Việt thời Pháp thuộc,
nơi các nhà làm văn hóa xuất thân từ các
trường đó. Chúng tôi biết có những người
chỉ học xong "primaire" mà đă có thể làm
thơ Pháp. Được học kỹ càng và có
phương pháp văn học, lịch sử, tư
tưởng Pháp, ở tuổi rất nhạy cảm
tiếp thu kiến thức mới, tại sao những
người viết sách báo ở miền Nam thời kỳ
này, hoàn toàn được đào tạo ở
trường học Pháp, lại không chịu ảnh hưởng
tư tưởng của Pháp được biểu
lộ trong nội dung các công tŕnh văn hóa của họ mà
chỉ chịu tiếp thu văn hóa phương Tây về
kỹ thuật xây dựng tác phẩm, phương pháp
nghiên cứu mà thôi? Trường hợp tiêu biểu là
Trương Vĩnh Kư (về biên khảo) và Hồ Biểu
Chánh (về sáng tác). Vậy phải chăng có một
trở ngại nào đó, dựa vào những yếu tố
địa lư chính trị, làm cho họ không nhạy cảm
mạnh với văn hóa Pháp? Khi nêu vấn đề này,
chúng tôi nghĩ đến những nhận xét của các ông
Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng về Công
giáo Việt Nam, đặc biệt Công giáo vùng đồng
bằng sông Cửu Long đă không phát triển mạnh
bằng Công giáo ở vùng đồng bằng sông Hồng
mặc dầu được các chế độ thực
dân ưu đăi. Những nhận xét của các ông về
thời kỳ thực dân đă xâm lược và thống
trị gợi ư cho chúng tôi đi t́m hiểu xa hơn
nữa ngay từ thời đạo Công giáo mới bắt
đầu truyền vào ở các thế kỷ XVII, VXIII và
mở rộng vấn đề liên hệ việc phát triển
Công giáo và phát triển văn hóa Pháp nói chung. Tại sao
văn hóa Pháp là lề lối sống đạo công giáo
theo Pháp đă không phát triển mạnh ở vùng
đồng bằng sông Cửu Long bằng ở vùng
đồng bằng sông Hồng?
Hồi đầu thời kỳ truyền
đạo, nghĩa là lúc chưa có nhà cầm quyền
thực dân nào ủng hộ. Giám mục Laneau (1882) trong
một hồi kư, đă nhận xét: "Trong tất cả
các vùng ngoại đạo mà các giáo sĩ thừa sai Pháp truyền
đạo dưới sự hướng dẫn của
Giám mục Pallu và các giám mục khác, không có vùng nào mà
đạo Thiên chúa có được những tiến
bộ lớn lao cho bằng Bắc kỳ, mặc dầu
thường bị bắt bớ và phải bảo vệ
đạo nghiêm ngặt hơn so với các vùng khác" cho
đến năm 1882, Bắc kỳ có 200.000 giáo dân và
chỉ năm 1882 có 6 vạn trở lại đạo, c̣n
ở đàng Trong chỉ có 6 ngàn (1). Theo Bonifacy, con số
cao hơn. Ở Bắc năm 1655 có đến 350.000
bổn đạo, ở Trung và Nam có 50.000 (2).
<<(1) C.Taboulet, La Geste française en Ind. Tome I
Situation genérale Christianisme en 1862, page 49.
(2) Bonifacy. Les débuts du Christianisme en Annam. Des
organies au 18è siècle HANOI 1930, Page 49, 60, 65.>>
Về sự kiện tại sao
người Việt Nam theo Công giáo nhiều hơn so
với các nước khác trong vùng (Tân Nhật, Xiêm, Cao Miên,
Miến...) có nhiều nguyên nhân chính trị, xă hội, kinh
tế có thể đưa ra để giải thích. Chúng tôi
không bàn đến ở đây, chỉ gợi ư về
nguyên nhân văn hóa. Một lối sống đạo
thế nào đó đă được rao giảng và khả
năng "nhạy cảm" tiếp thu ở mức
độ nào đó. Cũng vậy: Một thứ văn
hóa Tây phương nào đó (văn hóa Pháp) được
truyền bá và khả năng nhạy cảm tiếp thu
ở mức độ nào đó của người
miền Nam và miền Bắc.
Để t́m hiểu vấn đề này,
chúng tôi thấy phải phân biệt một đàng Công giáo
và Tin lành, đàng khác văn hóa la tinh và văn hóa anglô saxon
(3) và xác định những đặc điểm của
mỗi thực tại, một việc mà nhiều nhà xă
hội học, triết sử Tây phương đă làm...
Ở đây chúng tôi chỉ nhắc lại một vài nét
để gợi ư cho giả thuyết giải thích chúng tôi
nêu lên.
<<(3) Đúng ra phải phân biệt Công
giáo, Tin lành, Chính giáo thuộc Kitô giáo và Kitô giáo, Do thái giáo,
Hồi giáo thuộc Thiên chúa giáo. Ở VN, thường
gọi người Công giáo là người theo đạo
Thiên chúa, cũng đúng v́ thực tế ở VN. Chỉ có
người theo đạo Thiên chúa xu hướng Công giáo,
và phân biệt văn hóa các nước latinh, Pháp, Ư, Tây Ban
Nha, Bồ Đào Nha, với các nước Anglô saxon (Anh và
Đức). Nhận xét mặc dầu xuất phát từ
văn hóa Tây phương theo Kitô giáo, nhưng xứ latinh
đó đa số theo công giáo và sau này có những
đảng CS lớn mạnh và những xứ Anglê saxon,
germanique đa số theo đạo Tin lành có những
đảng CS nhỏ bé th́ những mối liên hệ trên
không phải là t́nh cờ ngẫu nhiên mà hẳn có những
nguyên nhân khách quan quy định.>>
Nhà triết học David Hume, người Anh
theo phái duy nghiêm (empirisme) thế kỷ XVIII đă nhận
xét người Pháp giống dân Hy Lạp cổ, thiên về
văn chương, nghệ thuật (beaux arts) có tính cách lư
tưởng (idéaliste) hiểu theo nghĩa xa thực tế,
c̣n người Anh giống dân La Mă xưa, thiên về
kiến trúc pháp luật, nghĩa là có óc thực tế.
Người Pháp là người lư
tưởng (idéaliste) (hiểu theo nghĩa lư thuyết)
về đạo đức. Thời vua chúa đặc
biệt tầng lớp quư phái ngại bẩn tay nên không
muốn dính líu vào việc buôn bán, giao dịch ngân hàng, v́
đụng vào tiền bạc vẫn được
kể là một điều xấu theo truyền thống
đạo lư của Thánh Thomas từ thế kỷ XIII, cho
nên tiếng Pháp không có những từ như "money
matter" (làm tiền). Trái lại, theo Max Weber, các xứ
theo đạo Tin lành coi việc buôn bán kinh doanh thành công phát
đạt là một điều tốt, v́ là một
dấu hiệu của Tiền định Thiên chúa
(prédestination diverie) nên của cải kiếm
được không việc ǵ phải che dấu, chịu
khai báo để nộp thuế. Người ta nhận ra
chỉ ở Pháp mỗi tháng các dân biểu, các nghị
sĩ không được thông báo về tiền lương
và các khoản phụ cấp đặc biệt chức
vụ của các viên chức cao cấp v́ những khoản
tiền này được giữ thật bí mật.
Người Pháp là người thiên về
chữ nghĩa, lư luận, thích tư tưởng học
thuyết, thường hănh diện là con cháu của
Descartes, phê phán triệt để, lư luận chặt chẽ
lập thuyết bao quát nhưng cũng thường
trở thành lư luận để lư luận, nghĩa là thay
thế cho hành động nói hay để mà nói, không
phải để làm. Người Pháp có những hạng
từ đối lập phân biệt. Tả - hữu,
cấp tiến - bảo thủ, cộng ḥa - bảo hoàng
v.v.. rất tiện lợi cho họ xếp vào hàng ngũ
để nuôi dưỡng những tranh luận và tranh
đấu vô tận trên báo chí hay nghị trường các
nghiệp đoàn, chính trị.
Một xứ xính những chương tŕnh
kế hoạch, tuyên ngôn, kiến nghị. Khi người
ta không thể giải quyết một vấn đề,
người ta lập ra những ủy ban nghiên cứu
để khỏi phải giải quyết. V́ thế
người Pháp thường bị chê trách: tả hữu
ǵ lên cầm quyền cũng không làm ăn phát đạt
được v́ thiếu óc thực tế.
Về chính trị, người Pháp
thường hănh diện v́ là xứ của những cách
mạng dân chủ, dân quyền chỉ đẹp trên lư
thuyết. Nhưng trong thực tế, giết vua mà vẫn
nhớ vua, vẫn duy tŕ những nghi thức, quyền hành
tối cao của vua. Những ông Tổng thống De Gaulle,
Giscard d'Estaing Mitterand đều vẫn giữ bóng dáng
của vị hoàng đế. Người ta kể
chuyện sau khi ông Mitterand lên làm Tổng thống, một
đồng chí Đảng Xă hội của ông "mày
tao" (Hay anh anh em em tutoyer) với ông trong một hội
nghị, ông trịnh trọng đáp lại bằng cách
thưa ông, thưa ngài (vousvoyer). Chỉ có ở nước
Pháp mới c̣n thấy chế độ các đại chủ
nhân (grand patron) trong các xí nghiệp cũng như ở
đại học với những nghi thức, cung cách
"triều đ́nh" như phải xưng hô: M. Le
Président trong khi ở Anh, Mỹ, chỉ gọi đơn
giản Bob, Bill... Ai dám cho rằng ở Anh tuy vẫn c̣n
vua, hoàng hậu đấy, nhưng kém ǵ Pháp về các
thể chế, phong tục dân chủ mặc dầu không
trải qua những cuộc cách mạng dân quyền
đẫm máu?
Văn chương Pháp là một nền
văn chương nổi tiếng vào hạng nhất
thế giới về sự phong phú, chải chuốt,
lời hay ư đẹp đủ mọi trường phái
lăng mạn, tả chân, tượng trưng, siêu thực,
trừu tượng v.v...
Về tôn giáo, đa số theo công giáo,
một đạo đặt nặng vai tṛ quyền hành
của hàng giáo phẩm, giáo sĩ, nghi thức tế tự
sinh hoạt cộng đồng, tổ chức chặt
chẽ theo hàng ngang, hàng dọc về hành chánh từ trên
xuống dưới, tổ chức đoàn thể theo
tuổi, nghề nghiệp, sở thích và ḷng tôn kính tôn giáo,
khác với những nước đa số theo Tin lành,
chủ trương thiết lập những quan hệ cá
nhân trực tiếp giữa tín hữu và Thiên chúa,
đặt nhẹ các thể chế, tổ chức trung
gian (giáo hội, đoàn thể, nghi thức bề ngoài).
Khi đi thực dân, người Pháp không
tránh được xu hướng lư tưởng hóa
một chính sách mà thực chất chỉ là bóc lột áp
bức, bằng những huyền thoại sứ mệnh
khai hóa văn minh, trở thành nạn nhân của chính
những chiêu bài đề ra và phải đợi cho
đến lúc bị đánh bể đầu sứt trán,
xuưt lung lay cả chế độ ở mẫu quốc
mới chịu giải quyết (décolinisation) trong khi
người Anh thực tế hơn đă vội trả
độc lập cho nhiều nước bị trị
trước khi những nước đó đ̣i hỏi.
Bây giờ thử t́m hiểu thử xem
đạo công giáo thời Trung cổ được các
thừa sai người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Ư,
các xứ la tinh rao giảng ở VN trong hoàn cảnh nào?
- Ở vùng đồng bằng sông Hồng:
chủ yếu nhằm những người ở tầng
lớp dưới, nghèo cực, cùng đinh hoặc không
phải dân đinh, ở nông thôn, vùng ven biển. Số
phận xă hội của họ đen tối như
thế lại ở trong một t́nh h́nh loạn ly liên miên,
lụt lội mất mùa càng trở thành tuyệt vọng.
Do đó thật không lạ ǵ khi thấy những
người không c̣n hy vọng nào ở trần gian này tin
theo những lời giảng huấn hứa hẹn một
cứu rỗi hạnh phúc ở một đời sau. Ngoài
ra, lối tổ chức sống đạo có tính cách b́nh
dân cộng đồng làng xă v́ không phải là dân đinh,
một thể chế sinh hoạt cộng đồng làng
xă y như hệt các cộng đồng làng xă khác nghĩa
là cũng có một quyền bính để vâng phục, các
tổ chức, đoàn thể, đóng góp, tương
tế, nghi thức, tế tự: rước xách, hội
hè, đ́nh đám, chỉ thay đổi nội dung
(chẳng hạn vẫn giữ tập tục trồng cây
nêu ngày Tết, chỉ thêm cây Thánh giá) những tổ
chức, sinh hoạt cộng đồng này trong các họ
đạo thường rất sầm uất và đáp
ứng những nhu cầu thiết yếu của một
đời sống xă hội b́nh thường và lành
mạnh: nhu cầu hội nhập (integration sociale) và nhu
cầu giải trí: những hội hè đ́nh đám
rước xách dù có tính cách tân giáo vẫn đáp ứng nhu
cầu vui chơi ở nông thôn xưa, vốn không có
những sinh hoạt giải trí như hiện nay ở các
đô thị. Những người công giáo sống ở
vùng đồng bằng sông Hồng, cho đến nay,
vẫn cảm thấy thoải mái, hội nhập và không
hề thấy ḿnh xa lạ, "ngoại nhập" trong
mối quan hệ với đồng bào lương, v́
lương giáo cũng đều có những hội hè,
đ́nh đám, rước xách (hội kèn, hội bát âm,
kiệu, cờ, trống) giống nhau. Do đó chúng tôi nghĩ
rằng một lối sống đạo như vậy
rất thích hợp với người dân đồng
bằng sông Hồng.
- Ở vùng đồng bằng sông Cửu
Long: Nhưng ở miền cực Nam Việt Nam, hoàn
cảnh có khác. Cuộc sống làm ăn tuy có vất
vả, nhưng vẫn chắc chắn có ăn. Đặc
biệt về mặt xă hội, người theo
đạo không hề bị kỳ thị, v́ tất
cả lương giáo đều là lưu dân b́nh
đẳng và tương trợ nhau trong cùng một hoàn
cảnh chung. Người theo đạo cũng sống xen
kẽ, trà trộn với người ngoài công giáo, không
tạo thành những giáo khu riêng như ở miền
Băc. T́nh cảnh cấu trúc làng xă trải dài, rộng ra
trong không gian tính chất những sinh hoạt tập
thể dựa trên tự túc, tự quản, tự do hành
động có lẽ không thích hợp với những
tổ chức tập thể, sinh hoạt cộng
đồng chặt chẽ của làng xă miền Bắc. V́
thế, ở miền Nam không thấy hiện tượng
trở lại đạo tập thể đông đảo
như ở vùng đồng bằng sông Hồng (1),
phải chăng v́ người dân ở đây, không ở
trong một t́nh cảnh tuyệt vọng về phần
đời và có nhu cầu thiết yếu về hội
nhập xă hội?
<<(1) Trừ trường hợp lúc Tây
mới sang, v́ sợ mà cả làng trở lại
đạo, nhưng sau biết Tây không bắt buộc,
tất cả lại bỏ đạo như đă
thấy trong "Sự tích các họ đạo ở Nam
kỳ" mà chúng tôi đă giới thiệu ở
trên.>>
Nói cách khác, ở miền Nam, số
người theo đạo ít hơn so với miền
Bắc, phải chăng v́ lư do, động cơ theo
dựa vào khả năng thuyết phục của giáo lư
nhiều hơn là dựa vào những nhu cầu xă hội?
Nếu về tôn giáo, Tây phương nói
chung và người Pháp nói riêng đă đưa sang Việt
Nam một lối sống đạo thật b́nh dân
đại chúng th́ về văn hóa, trái lại người
Pháp đă truyền vào Việt Nam một thứ văn hóa
rất "bác học" dành cho những tầng lớp
trên. Nền văn hóa bác học này đă xa rời từ
lâu truyền thống văn hóa dân gian, đại chúng
thời Trung cổ, Phục hưng... Tuồng kịch
của Corneille, Racine, đâu có phải để cho dân chúng
xem? Đó là một nền văn học chủ yếu dành
cho quư tộc, trưởng giả. Càng xa rời
đại chúng, tư tưởng học thuật càng
nặng tính chất trừu tượng, h́nh thức.
Một nhà triết học Tây phương
đă nói: Nhân loại chỉ đặt những vấn
đề nhân loại giải quyết được,
nghĩa là tư tưởng, học thuật, triết
học gắn liền với thực tại, chỉ
được đặt ra khi thực tại đ̣i
hỏi, và xóa bỏ, khi thực tại đă
được thay đổi, và lại chỉ đặt
ra khi có nhu cầu. Nhưng con người cũng vẫn
đặt những vấn đề không giải quyết
được hoặc đặt vấn đề (trên lư
luận) để khỏi phải giải quyết (trong
thực tế). Trong cả hai trường hợp sau, lư
luận lập thuyết được đặt
nặng, đề cao có thể trở thành một sinh
hoạt, thực tại riêng biệt, tách rời khỏi
thực tế. Tư tưởng càng thâm trầm, sâu
sắc trong việc phê phán, lư luận, thơ văn càng
chải chuốt, hoa mỹ, phản ảnh sinh hoạt
tư tưởng thâm trầm sâu sắc kể trên. Tất
cả cùng tạo ra nhiều ảo tưởng, những
tâm lư mà tiếng Pháp gọi là "alibi". Tự ban cho
ḿnh một thỏa măn trí thức trước một
thực tế bế tắc và ḿnh bất lực không thay
đổi được, ít ra đă bày tỏ sự phê
phán chống đối nó trên b́nh diện tư
tưởng, học thuật qua một tác phẩm, một
câu chuyện kể đôi khi dưới h́nh thức tiếu
lâm, ca dao sâu sắc, thâm trầm...
Nền văn hóa bác học của Pháp
được du nhập vào Việt Nam mang những tính
chất của loại tư tưởng học thuật
thuộc hai trường hợp sau kể trên có vẻ không
thích hợp với tâm lư người trí thức Việt Nam
ở vùng đất mới thiên về nếp sống
tư tưởng chỉ đặt những vấn
đề có thể giải quyết được,
nghĩa là thiên về các ngành khoa học tự nhiên. Chúng tôi
chưa làm được một thống kê, nhưng
nhận thấy phần đông trí thức miền Nam
chọn những ngành nghề thiết thực, kỹ
sư, bác sĩ, ít ai chuyên về triết học, hoặc
các ngành khoa học xă hội khác. Khi học ở
trường, chắc chắn họ đă được
đọc thơ văn lăng mạn, tượng trưng siêu
thực, nhưng khi viết văn làm báo không thấy ai ca
tụng "Rimbaud, Verlaine", không thấy những
trường phái trên được "mô phỏng"
lặp lại ở miền Nam, v́ phong trào lăng mạn
kiểu Lamartine, một thứ lăng mạn bệnh hoạn,
yếm thế khác hẳn thứ lăng mạn lành mạnh
không thể thích hợp với tâm lư của người con
gái Hậu Giang khỏe mạnh có vú nở, chân chắc,
không cấm cung tách biệt với lao động.
Không phải chỉ về nội dung, ngay
cả cung cách sinh hoạt văn hóa bác học Pháp cũng
không thích hợp với người trí thức miền Nam
v́ lư do ở vùng đất mới chưa h́nh thành một
giai cấp quư tộc ngay cả giới làm quan cho Pháp
cũng chưa tự cho ḿnh là quí tộc, được
biểu lộ qua nếp sống ăn, mặc, ở riêng
và khinh chê lối sống của hạng b́nh dân. Do đó
ở miền Nam, chưa phân biệt hai ḍng văn hóa: bác
học và b́nh dân, mà chỉ có một chung cho mọi
giới. Tuồng, hát bội, tiểu thuyết không
phải chỉ dành riêng cho một thiểu số thuộc
tầng lớp trên ở đô thị.
Văn hóa bác học dựa trên những phân
biệt. Ví dụ in sách báo, văn học, tư
tưởng th́ chỉ nói đến văn học,
triết học, nếu có quảng cáo, chỉ quảng cáo
sách báo tư tưởng văn học không thể
quảng cáo thuốc, đồ tiêu dùng. Tờ báo cuốn
sách dành riêng cho một giới. Ở Pháp đi ngoài
đường cứ xem ai cầm tờ "Le Monde"
hay "France soir" là biết ngay người đó là trí
thức hay b́nh dân, tờ Le Monde chỉ đăng tin
viết thành bài, có kư tên người viết, không bao
giờ đăng h́nh ảnh. Trí thức Pháp quen thuộc
với những tạp chí thuần túy văn học,
triết lư, chính trị không thể chấp nhận tạp
chí play-poy của Mỹ, bên cạnh những tranh khỏa
thân, những bài phiếm luận nhẹ nhàng, có những
bài rất nghiêm chỉnh sâu sắc, về tôn giáo, triết
học, chính trị (1). Cuộc sống của con người
có nhiều mặt, nhiều lúc, không phải lúc nào cũng
nghiêm nghị suy nghĩ triết học, thần học...
Triết học, thần học cũng không phải
chỉ dành riêng cho thiểu số trí thức, c̣n
người làm ăn buôn bán, lính tráng không thể
đọc hay không được đọc. Như vậy
là dân chủ, v́ không có phân biệt đối xử, v́
phổ biến văn hóa rộng răi cho mọi người
đồng thời lại bán được nhiều sách
báo hơn. Có lợi cả về kinh doanh lẫn văn hóa,
vừa làm văn hóa vừa làm kinh tế hay làm kinh tế
bằng văn hóa, hoặc ngược lại, làm như
thế có ǵ là xấu? Không phải cái này giá trị hơn,
đáng trọng hơn cái kia mà chỉ là hai giá trị khác
nhau. Quảng cáo, rao vặt có giá trị của nó, bài xă
thuyết có giá trị của bài xă thuyết, không câu nệ
g̣ bó. Câu nệ như tờ Le Monde hiện nay bị lỗ
v́ chỉ có thể bán trong giới trí thức (2).
<<(1) Chẳng hạn số tháng giêng
1967 bên những bài về phái tính trong điện ảnh,
tiểu thuyết giả tưởng, chuyện khôi hài tranh
khỏa thân có bài phỏng vấn rất dài Fifel Castro, bài
về sự nổi loạn trong Giáo hội của Harvey
Cox, một nhà thần học nổi tiếng, bài bày tỏ
lập trường chống chiến tranh VN của nhà
soạn kịch Đức nổi tiếng Hochuth,
đăng bài sau này trong một tờ báo văn nghệ
dành riêng cho trí thức th́ lính Mỹ ở VN không thể
đọc được.
(2) Gần đây chúng tôi được coi
mấy tờ be Nouvelle critique của DCS Pháp (số 110 và
116/L978) ai đă quen thuộc với tạp chí khắc
khổ này trước đây không khỏi bỡ ngỡ khi
thấy tạp chí ra khổ lớn, in chữ nhiều màu,
có tranh khôi hài, h́nh ảnh gần như khỏa thân,
quảng cáo thuốc lá Philips Morris. Chúng tôi cũng
được coi mấy tờ New Look (1984) xuất
bản ở Paris, là một thứ Play-boy bằng tiếng
Pháp, tuy có nhiều phóng sự đặc biệt, nhưng
không thấy những bài về triết học, thần
học, xă hội như trong Play-boy. Có lẽ những nhà
tư tưởng, khoa học Pháp vẫn c̣n cho rằng
những cái nghiêm chỉnh như khoa học xă hội,
triết học tôn giáo không thể được nói, in
cùng với những cái nhảm nhí đồi trụy?
Nh́n vào t́nh h́nh sinh hoạt, in xuất
bản, phát hành sách báo thời kỳ này ở miền Nam,
chúng tôi thấy những tiểu thuyết nổi tiếng
của những nhà văn nổi tiếng đăng trong
các sách quảng cáo của nhà thuốc Nhị thiên
đường, Vệ sinh đường như
"Chằng cà mun" của Nguyễn Chánh Sát. Hoặc
được in thành tập vài chục trang, b́a tŕnh bày
sơ sài, rao bán ở các bến xe, bến phà cùng với các
thứ thơ. Thơ Hậu, Tuồng cải lương,
loại gọi là ba xu, ba hào, chứ không phải
được in thành một cuốn, tŕnh bày có nghệ thuật,
trưng bán một cách trang trọng ở các hiệu sách.
Không phải chỉ văn chương lẫn lộn
với kinh tế thương mại mà cả khoa học,
tôn giáo, phê b́nh. Mở một số báo khoa học tạp
chí ra vào hồi 1924 do bác sĩ Trần Văn Đôn chủ
trương cùng với Lưu Văn Lang, Bùi Quang Chiêu
số 40 (7-1924) thấy có bài về bệnh dịch
hạch bên cạnh bài bàn về nghề tằm tơ,
luật buôn, Tam tự kinh diễn nghĩa, văn
truyện, văn lưu thủy Annam... Hoặc tuần báo
Nam Kỳ địa phận ra từ 1909 không phải
chỉ nói việc đạo, mà đủ cả: văn
chương, tục ngữ, thai đố, giới
thiệu thuốc tây, thuốc ta, giá lúa ở Chợ
Lớn, giá bạc ở Sài G̣n và cũng không phải
chỉ dành cho người công giáo - đúng là "tạp nhạp"
hay "tạp pín lù" nếu nh́n theo con mắt phân
biệt đối xử như: Bổn quá kính cáo (số
1) Đạo lư, phong hóa, bá nghệ, bác học, văn tin:
Nam Kỳ địa phận nhựt tŕnh
Lương
giáo hai bên mặc thích dùng
Giáo,
hóa, công, văn bày lề chính
Bỉ
nông công cổ tỏ dường cùng.
Tóm lại, văn hóa bác học của Pháp
có vẻ thích hợp hơn với miền Bắc, là
nơi cũng có phân biệt hai ḍng văn học, bác
học và b́nh dân. Trước đây người trí
thức Bắc hà đă chịu ảnh hưởng sâu
đậm văn hóa Trung Quốc, một văn hóa có
những học thuyết tư tưởng sâu sắc và
nền văn chương chau chuốt hoa mỹ, bây
giờ, được tiếp xúc với một văn hóa
khác, vào hạng nhất trên thế giới, cũng thâm
trầm sâu sắc, chải chuốt hoa mỹ như
nền văn hóa Trung Quốc. Do đó mới thấy
hiện tượng hầu như mỗi nhà văn, thơ
thuộc thế hệ gọi là "chịu ảnh
hưởng giáo dục phương Tây", đều có
bóng dáng công khai hay ẩn dấu một nhà thơ, một
nhà văn Pháp đằng sau, hoặc những trào lưu
trường phái văn học Pháp được "mô
phỏng" lập lại như ở Pháp. Bắt
chước, mô phỏng không phải chỉ về kỹ
thuật xây dựng tác phẩm, phương pháp nghiên
cứu, mà cả nội dung tư tưởng. Phong trào
Tự lực văn đoàn đă dựa vào chủ
nghĩa cá nhân phương Tây để đả phá
nề nếp gia đ́nh truyền thống Việt Nam.
Trở lại việc so sánh hai văn hóa Pháp và Anh, giả
sử Việt Nam rơi vào quỹ đạo thuộc
địa Anh th́ đă ra sao? Trước hết, có lẽ
đă không có công giáo, hoặc rất ít và chủ yếu
ở trong giới tư sản thành thị, v́ Tin lành chú
trọng truyền đạo trong giới này. Việc
giải thực chắc cũng được thực
hiện sớm và không phải trả bằng giá quá đắt
cho cả hai bên. C̣n về văn hóa? Riêng miền Nam có
lẽ đă thích hợp hơn với nền văn hóa có
tính thực dụng (1) của người Anglo saxon.
<<(1) Những gợi ư trên để t́m
hiểu khoảng lịch sử sau này của miền Nam
khi tiếp xúc với văn hóa Bắc Mỹ.>>
Tinh thần lối viết theo Tây
phương:
Như chúng tôi đă ghi nhận: nhiều nhà
viết văn, viết báo thời kỳ này đă tiếp
thu lối viết theo Tây phương. Sự tiếp thu này
đặc biệt rơ rệt trong văn xuôi, thể văn
tiểu thuyết. Hồ Biểu Chánh đă thú nhận trong
hồi kư của ông rằng ông đă chuyển hẳn
hướng viết văn sau khi đọc truyện
"Thầy Lazarô Phiền" của Nguyễn Trọng
Quản. Muốn thấy một cách cụ thể sự
chuyển hướng trên, chỉ cần so sánh truyện
"U t́nh lục" viết bằng văn vần
kiểu Kim Vân Kiều và "Ai làm được"
truyện đầu tiên bằng văn xuôi viết theo
lối chịu ảnh hưởng ít nhiều tây
phương. Sau này, qua những truyện ông phóng tác theo các
tiểu thuyết tây phương mà chúng tôi đă
đối chiếu so sánh (Chúa tàu Kim Quy, Cay đắng mùi
đời, Ngọn cỏ gió đùa), càng thấy rơ ông
đă tiếp thu lối viết tiểu thuyết Tây
phương thế nào (v́ ông đă gạt bỏ mọi
tư tưởng, ư thức hệ của các tiểu
thuyết Tây phương mà ông phóng tác) và tiếp thu một
cách thật nhuần nhuyễn hơn là Lê Hoằng Mưu.
Trường hợp Hồ Biểu Chánh cho chúng tôi thấy
hai sự kiện:
- Nhiều tác phẩm sử, văn,
truyện xuất bản rất sớm ở miền Nam
bằng quốc ngữ đều do các tác giả công giáo
hay chịu ảnh hưởng công giáo.
- Những tác giả công giáo này viết
văn quốc ngữ thật đúng chính tả, gọn,
xuôi, rơ như Phan Khôi đă nhận định: Đọc
Nam kỳ nhựt tŕnh có những Huỳnh Tịnh Của,
Trương Minh Kư, cộng tác (1898 - 1899) và Nam Kỳ
địa phận từ (1909 - 1945) một bên Nông Cổ
mín đàm và Lục Tỉnh tân văn bên kia sẽ thấy
sự khác biệt lớn lao giữa hai lối viết
văn quốc ngữ như chúng tôi đă tŕnh bày trong
chương về báo chí. Những sự kiện này
gợi ư cho chúng tôi đi t́m hiểu xem có mối quan hệ
nào giữa Tinh thần của lối viết văn
của Tây phương với Kitô giáo, và Tinh thần đó
là ǵ?
Đó là sự chú ư với người
thực, việc thực, không phải những biến
cố đặc biệt, quan trọng, mà là những
việc xảy ra b́nh thường trong đời sống
hàng ngày, không phải của vua quan, các tầng lớp trên,
mà là của đông đảo quần chúng, quần chúng
thuộc lớp người bị trị...
Không có tinh thần này, không thể có văn
xuôi và các thể văn viết như báo chí, sử kư,
tiểu thuyết. Người ta thấy tinh thần này
trong các tài liệu văn xuôi dạo như Sử kư hội
thánh (sử kư giáo hội), Hạnh các thánh, các sách giảng
thuyết Kinh hạt v.v.. đă có ngay từ hồi
đầu của Kitô giáo. Những tư liệu này ghi chép
kể lại người thật việc thật,
những sinh hoạt của cộng đồng dân chúng,
nghĩa là của đa số quần chúng các tầng
lớp dưới.
Truyền thống văn xuôi này, khi
chuyển sang văn xuôi dời, ở tây phương -
chỉ thay đổi nội dung mà vẫn giữ tinh
thần lề lối diễn tả.
Khi Kitô giáo được du nhập vào
Việt Nam, dĩ nhiên các thừa sai mang theo truyền
thống văn xuôi tôn giáo kể trên. Các sách sử kư
hội thánh, hạnh các thánh v.v... được dịch
hoặc phóng tác ra tiếng Việt trước tiên bằng
chữ nôm, rồi bằng quốc ngữ.
Sự có mặt của lối văn xuôi
dạo bằng chữ viết đưa cái b́nh
thường, hàng ngày vào sinh hoạt văn hóa có thể coi
là một yếu tố mới trong truyền thống
văn hóa Việt Nam. Không kể văn học dân gian
truyền miệng th́ dù bằng chữ Hán hay chữ Nôm,
văn viết chủ yếu là văn vần c̣n văn xuôi
chỉ để chép chính sử, giấy tờ hành chính.
Nhưng dù là văn xuôi hay văn vần, chữ Hán hay
chữ nôm th́ nội dung lời văn viết này
thường xa thực tế hàng ngày trước mắt,
không đụng chạm ǵ tới sinh hoạt của
đông đảo dân chúng, và về tinh thần diễn
tả lời nói, chữ viết cũng không phải
tiếng nói hàng ngày của người dân. Dù truyện
Kiều văn chương tư tưởng có hay, sâu
sắc thế nào đi nữa, người ta cũng không
thể t́m thấy một phản ảnh nào về ngôn
ngữ, nếp sinh hoạt, đời sống xă hội
của người Việt Nam b́nh thường thế
kỷ XIX, họ ăn, mặc, ở ra sao, đi chợ
thế nào, thực sự tin cái ǵ, muốn cái ǵ v.v...?
Nhưng những điều b́nh
thường đó của dân chúng ở một địa
phương, một thời kỳ lịch sử có
thể t́m thấy trong các tư liệu chữ viết nôm
hoặc quốc ngữ đă in hoặc vẫn c̣n bản
chép tay của giới công giáo.
Trong viễn tượng trên, điều
chúng tôi coi là cốt yếu, quan trọng ở đây là tinh
thần chú ư tới cái hàng ngày của quần chúng, không
phải những h́nh thức diễn tả bằng chữ
viết: nôm hay quốc ngữ, và do đó, nếu có nói
đến đóng góp của Kitô giáo vào văn hóa Việt
Nam, có lẽ trước hết nên kể đến tinh
thần này. Dĩ nhiên tinh thần này cũng như một
số khái niệm, giá trị khác của Tây phương,
bắt nguồn từ Kitô giáo đă trở thành gia tài chung
của văn hóa nhân loại, nên chính những người
sử dụng truyền bá hay tiếp thu, có thể không
biết hay không cần biết đến nguồn gốc
xa xưa của nó...
Bây giờ chúng ta làm báo, viết kư sự,
tiểu thuyết mô tả người thực việc
thực của dân chúng là một điều b́nh
thường, nhưng ngược ḍng lịch sử
văn học dân tộc hàng trăm ngàn năm về
trước, th́ việc làm trên mới có cách đây trên
dưới một trăm năm nay... Nếu nhân mối
liên hệ giữa tinh thần chú trọng tới cái b́nh
thường hàng ngày bắt nguồn từ truyền
thống Kitô giáo với văn xuôi người ta sẽ
dễ hiểu tại sao những người viết báo,
truyện kư, tiểu thuyết sớm nhất theo lối
Tây phương là những người công giáo hay chịu
ảnh hưởng công giáo... và tại sao họ sử
dụng thành thạo, nhuần nhuyễn lối văn xuôi
kể trên, v́ đọc những ǵ họ viết về
văn xuôi dạo, dời từ hằng trăm năm
về trước, ngoại trừ những từ của
địa phương, thông dụng đương
thời, lối viết của họ chẳng khác là bao
lối viết hiện nay.
Ngoài ra, kho tàng chữ viết nôm, quốc
ngữ của giới công giáo cũng cung cấp những
dữ kiện trực tiếp hay gián tiếp cho chúng ta ngày
nay hiểu được nếp sống, phong tục,
tập quán, sinh hoạt hàng ngày và tiếng nói của
người dân thường ba, bốn thế kỷ
trước.
Chẳng hạn sách "Thánh Giáo yếu
lư" bản gốc của Bá Đa Lộc năm 1774, các
bản in Tân Định cuối thế kỷ XIX, và
đầu thế kỷ XX chỗ về cấm mê tín
dị đoan, kể các loại dị đoan thời
đó ở miền Nam là thế nào cung cấp một
dẫn chứng cho nhà phong tục học:
"Dị đoan là dí ǵ?
"Là những sợ dơm tế quải
lạy ông bà cha mẹ, tin bói khoa nham độn, cậy phù
thủy pháp môn, xem tướng mạo, chọn ngày giờ,
kỳ yên chạp miểu, lên đồng xuống
đồng, thờ tiên sư, thổ công, thổ chủ,
đặt bài vị, lên nêu, buộc tran cầu địa
lư, đốt giấy tiền vàng bạc, tin chiêm bao
mộng huyền, gặp đờn ông đờn bà là bàn
luận tốt, xấu, cùng là tin chó kêu, gà gáy, chuột túc,
nhện sa, rằng thiêng rằng thính, và mọi dầu khác
như vậy."
Nhưng có lẽ phần đóng góp quan
trọng hơn cả của các sách tôn giáo là về mặt
ngôn ngữ học. Các nhà ngôn ngữ trên thế giới
đều chú ư đến mảng tài liệu cổ này
như N.V. Starkêvich (bà Nguyễn Tài Cẩn), nhà ngữ
học ở Hà Nội, đă gợi ư trong bài "Một
vài suy nghĩ bước đầu về việc nghiên
cứu ngữ pháp lịch sử tiếng Việt".
(Tạp chí Ngôn ngữ, số 4/1978 HANOI).
Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ
thời Lô-mô-nô-nôp người ta đă chú trọng rất
nhiều đến văn bản "Kinh Thánh của
O-xtrô-mia, (1056-57) và măi sau này trong công tŕnh nghiên cứu
ngữ pháp Lịch sử tiếng Nga của Sec-ma-tôp,
của Dua-nô-vô v.v... văn bản đó bao giờ cũng
được hết sức đề cao. Tiếp theo sau
văn bản đó, người ta lần lượt xét
đến tất cả các văn bản có thể có,
thuộc các thời kỳ kế tiếp, như văn
bản ghi trên đă ở Tru-tơ-rơ-can, văn bản
dịch từ tiếng Hy lạp cho Vua Xi-mê-on, văn
bản Kinh Thánh t́m được ở Ac-khăng-ghen v.v...
... Đối với việc nghiên cứu
ngữ pháp lịch sử tiếng Việt từ thế
kỷ 17 đến nay, theo ư chúng tôi, hoàn toàn cũng có
thể làm như vậy, bởi v́ những thế kỷ
này hiện c̣n để lại cho ta khá nhiều văn
bản. Ngoài các tác phẩm văn học nổi tiếng mà
chúng ta đều biết như Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ
ngâm, truyện Hoa tiên, truyện Kiều, thơ Hồ Xuân
Hương, Văn tế Phan Huy Ích v.v... thời kỳ này
lại c̣n một nét đặc biệt làm cho nó khác hẳn
các thời kỳ trước đó là hiện có khá
nhiều văn xuôi - văn xuôi thực sự chứ không
phải văn xuôi biền ngẫu. Vào khoảng giữa
thế kỷ 17 chúng ta hiện c̣n những bức thư
của ông Tín, ông Thiện viết bằng quốc ngữ,
gởi từ Đàng Ngoài vào khoảng tháng 9, tháng 10 năm
1659, những mẩu chuyện về phong tục Việt
Nam, truyền thuyết Việt Nam, cũng bằng quốc
ngữ và của Ban-to Thiện thế kỷ 17 lại c̣n
để lại cho ta hơn 20 tác phẩm nôm dày hàng
năm, sáu trăm trang, có đề ngày tháng rơ ràng, hiện
c̣n tàng trữ tại Thư viện Vaticăng như Thiên
chúa Thánh giáo hối tội kinh" (1634), Đức Chúa Chi
Thu (1660), Thiên chúa Thánh giáo khải mông (1668)... Cuối
thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, ta có hơn 30
bộ sách của Phi-lip-phê Bỉnh như 3 tập
"Truyện nước Annam Đàng Ngoài chí Đàng
Trong" dày hơn 1500 trang, "Sách sổ sang chép các
việc" dày hơn 600 trang. Thời kỳ này văn xuôi
nghị luận cũng có, ví dụ cuốn "Biện
phân tà chánh" chúng tôi hiện c̣n thấy ở Thư
viện Đại học Tổng hợp Lê-nin-grat. Đó
là chưa kể các bộ từ điển có thể cung
cấp cho chúng ta những kho tàng rất phong phú về cách
cấu tạo từ và từ tố như từ
điển A.dờ Rốt, từ điển Ta-be, từ
điển Nôm "Chỉ nam ngọc ấm", v.v...
Một cách cụ thể, về lịch
sử tiếng Việt ba thế kỷ cuối, những
tư liệu nôm quốc ngữ có thể chứng minh:
1) Tính thống nhất của tiếng
Việt vào thế kỷ 17 ở Đàng Trong và Đàng Ngoài
(dựa vào 4000 trang chữ nôm của Majorica, Tự
điển De Amaral, Việt-Bồ-la của Đắc
Lộ...)
2) Sự phân hóa tiếng Việt thành
tiếng, giọng miền Nam (các tự điển Bá
Đa Lộc, Tabert, các sách xuất bản của nhà in Tân
Định).
Chú thích:
Nhấn mạnh vào điều quan trọng
chủ yếu là: Tinh thần chú ư tới cái b́nh
thường, hàng ngày được đưa vào sinh
hoạt văn hóa chữ viết, chúng tôi có ư nghĩ
giả sử không có chữ quốc ngữ th́ có Tinh
thần kể trên, người công giáo và sau đó
người ngoài công giáo vẫn có thể viết báo,
viết kư, tiểu thuyết theo lối Tây phương
bằng chữ Nôm để phê phán luận điểm quen
thuộc cho rằng, chữ Nôm khó nên phải có chữ
quốc ngữ mới diễn tả được
dễ dàng kiến thức khoa học và do đó chữ
quốc ngữ là phương tiện duy nhất của
tiến bộ như mấy học giả người
Pháp và nhóm Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh đă
từng rêu rao (1). Gần đây (1979) mấy nhà ngôn ngữ
học Mỹ đă thực hiện một trắc
nghiệm so sánh tác dụng việc học chữ Hán và
chữ La tinh ở nơi trẻ con. Sau ba năm, kết
quả cho biết học chữ Hán không khó hơn học
chữ viết La tinh (tiếng Anh) và hơn nữa mức
trí tuệ phát hiện rất cao ở nơi các em học
chữ Hán so với các em học chữ La tinh (2), không
phải không có lư do mà những nước Nhật, Trung
Quốc đă phát triển sau khi thử La tinh hóa chữ
viết, cuối cùng vẫn duy tŕ chữ Hán như chữ
viết thông dụng và phương tiện truyền thông
phổ biến các loại kiến thức, kể cả
kiến thức khoa học Tây phương.
<<(1) Xem chữ và văn quốc ngữ
thời kỳ đầu Pháp thuộc, Nam Sơn xuất
bản SAIGON 1979 trong chương 3. Tiếng nói, chữ
viết, văn học trong hoàn cảnh đất
nước hay sự lừa bịp của chủ nghĩa
quốc gia bằng tiếng nói, chữ viết, đặc
biệt trang 140-197.
(2) Thông tin do anh Cao Xuân Hạo, Ban Ngôn
ngữ Viện KHXH cho biết, nhưng chưa t́m ra
được cuốn sách in, nên chúng tôi chưa dẫn
chứng cụ thể được.>>
Dĩ nhiên, nói như vậy, không có ư
phủ nhận chữ quốc ngữ như một sự
kiện đă có đó và được chấp nhận.
Riêng về chữ quốc ngữ, chúng tôi cũng muốn
lưu ư hai điều: theo một vài nhà ngữ âm học,
th́ việc ghi tiếng Việt bằng chữ La tinh kể
như là hoàn chỉnh ngay từ thời kỳ đầu,
nếu có những hạn chế th́ đó là những
hạn chế không vượt qua được, do đó
những nỗ lực cải cách chữ quốc ngữ
từ trước đến nay không đi đến
đâu phải chăng là v́ những dữ kiện trên?
Việc sáng tạo viết văn, làm tự điển
bằng chữ quốc ngữ không phải chỉ do các
thừa sai làm, mà cũng không phải do người Việt
Nam làm như một dư luận mà Đào Trinh Nhất
đă ghi lại. Trên kia tôi đă nhắc lại rằng có
ít nhiều bạn quen, rành việc đạo đời
xưa ở nước ta lắm, nói với tôi rằng:
"Chữ quốc ngữ có lẽ do mấy thầy
giảng người ḿnh ở miệt Nghệ An, Hà
Tĩnh đặt ra, mà có các ông cố đạo Lang Sa, Y
Pha Nho, cùng là người Bồ Đào Nha giúp sức vào
nữa. Mấy thầy giảng người ḿnh đó tên
ǵ, là ai th́ không ai biết được." (Trong bài
Người có công với chữ quốc ngữ từ 300
năm trước, Cha Alex, de Rhodes, Phụ nữ tân văn
9-2-1932 trang 12).
Sự thực là của cả hai, nhưng
mức độ tham gia đóng góp thế nào không xác
định rơ được. Về các tư liệu lúc
đầu như của Alex de Rhodes, Majorica, người ta
khó tưởng tượng nổi lối viết xuôi
rất Việt Nam, lại là có thể là của những
người ngoại quốc. C̣n về các tự
điển tài chính các thừa sai đă thú nhận:
- Pigneau de Belhame: "Tôi bắt đầu
làm việc với Paul, người bạn đường
tất cả mọi công tŕnh của tôi, về những
chỉ dẫn quen thuộc đối với Phúc Âm."
(Paul đây là L.M. Hồ Văn Nghị, xem Taboulet, tom I trang
173).
- Taberd, Theo M. Đức trong "Hạnh
cha Minh và Lại Gẫm tử đạo" th́ Taberd khi
ở Calcutta có mang theo học tṛ sách đoán (chủng sinh
thần học) tên là Thân và Hiếu theo mà giúp việc in
tự điển. Sau khi hai người này về
nước, lại xin gửi Phan Văn Minh sang giúp cho
rồi việc tự trị. Chính Phan Văn Minh là
người đem Tự vị Taberd về nước
tháng 8.
- Tự điển Genibrel. Trong lời
tựa: "Dàn bài và kế hoạch thực hiện Tự
điển mới được bàn xét và quyết
định vào đầu năm 1884, và từ đó tức
là trong 19 năm, chúng tôi không ngừng theo đuổi công
tŕnh này cho đến khi hoàn tất với sự giúp
đỡ của một nhà nho tuyệt vời."